Sinh lý bệnh, biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán đau nửa đầu (migraine) ở người lớn

TÓM TẮT

Dịch tễ học – Đau nửa đầu (migraine) là bệnh lý phổ biến, ảnh hưởng đến 12% dân số chung. Bệnh gặp ở nữ nhiều hơn nam và ở người trẻ nhiều hơn người cao tuổi. Tỷ lệ hiện mắc đạt đỉnh ở độ tuổi 30 đến 39, với tỷ lệ xấp xỉ 24% ở nữ và 7% ở nam (hình 1). (Xem thêm mục ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)

Yếu tố khởi phát – Các cơn đau nửa đầu có thể được kích hoạt bởi các yếu tố sinh lý, môi trường hoặc chế độ ăn uống, bao gồm căng thẳng (stress), kinh nguyệt, rối loạn giấc ngủ, nhịn ăn, ánh sáng nhấp nháy, mùi hương và thay đổi thời tiết. Một số chất như nitrat, rượu vang và các đồ uống có cồn khác, cũng như aspartame cũng là tác nhân gây khởi phát cơn đau ở một số cá nhân. (Xem thêm mục ‘Yếu tố khởi phát và làm trầm trọng thêm’ ở dưới.)

Các giai đoạn của cơn đau nửa đầu – Cơn đau nửa đầu thường tiến triển qua các giai đoạn riêng biệt kéo dài từ vài giờ đến vài ngày (xem mục ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới):

  • Tiền triệu (Prodrome): Nhạy cảm với ánh sáng và/hoặc âm thanh, mệt mỏi, đau cổ hoặc các triệu chứng nhận thức như dễ kích động hoặc hưng phấn; xuất hiện tối đa 48 giờ trước khi đau đầu.
  • Hào quang (Aura): Các triệu chứng thần kinh thoáng qua; phát triển trong vài phút và kéo dài tối đa một giờ.
  • Đau đầu (Headache): Đau đầu mức độ trung bình đến nặng; kéo dài từ 4 đến 72 giờ.
  • Hậu triệu (Postdrome): Mệt mỏi, thường kèm theo đau đầu dư thừa khi vận động; kéo dài từ vài giờ đến một ngày.

Hào quang – Hào quang xuất hiện ở 25% bệnh nhân và thường xảy ra trước cơn đau đầu. Các triệu chứng thường phát triển trong vài phút trước khi biến mất, trái ngược với sự khởi phát đột ngột của các triệu chứng đột quỵ. Các triệu chứng thường gặp bao gồm (xem mục ‘Hào quang trong đau nửa đầu’ ở dưới):

  • Thị giác: Ánh sáng chói, đường zic-zac và/hoặc ám điểm thường xuất hiện ban đầu ở rìa thị trường, sau đó mở rộng dần rồi mới biến mất.
  • Cảm giác: Cảm giác tê rần, thường tiến triển dần thành tê một bên thoáng qua ở mặt và/hoặc chi trước khi biến mất.
  • Ngôn ngữ: Suy giảm khả năng phát âm, sai từ (paraphasic errors) hoặc khó nói (dysarthria).
  • Vận động: Yếu mặt và/hoặc yếu một bên chi.

Đặc điểm cơn đau đầu – Các đặc điểm thường gặp của đau nửa đầu bao gồm đau một bên với cường độ trung bình đến nặng, tính chất mạch đập hoặc nhói, buồn nôn và/hoặc nôn, sợ ánh sáng, sợ tiếng động, tăng nặng khi hoạt động thể chất thông thường và tăng cảm giác đau (cutaneous allodynia) – đặc biệt là ở da đầu. Khi xuất hiện, các đặc điểm này giúp phân biệt đau nửa đầu với các hội chứng đau đầu phổ biến khác (bảng 5). (Xem thêm mục ‘Đau nửa đầu’ ở dưới.)

Các phân thể đau nửa đầu – Các phân thể đau nửa đầu đặc trưng bởi các triệu chứng hào quang riêng biệt bao gồm (xem mục ‘Các phân thể đau nửa đầu’ ở dưới):

  • Đau nửa đầu có hào quang thân não: Hào quang bao gồm ≥2 triệu chứng thân não như khó nói, chóng mặt, thất điều hoặc giảm mức độ tỉnh táo (bảng 1).
  • Đau nửa đầu liệt nửa người: Hào quang bao gồm yếu một bên kèm theo một triệu chứng khác.
  • Đau nửa đầu võng mạc: Hào quang bao gồm ám điểm thị giác một mắt hoặc mất thị lực.
  • Đau nửa đầu tiền đình: Các đợt chóng mặt tái diễn, thường kèm theo đau đầu hoặc các triệu chứng migraine khác như buồn nôn hoặc sợ ánh sáng.

Các phân thể đau nửa đầu khác bao gồm:

  • Đau nửa đầu liên quan kinh nguyệt: Các cơn đau xảy ra duy nhất trong khoảng thời gian 5 ngày quanh thời điểm bắt đầu kỳ kinh.
  • Đau nửa đầu mạn tính: Đau đầu xảy ra >15 ngày mỗi tháng trong ≥3 tháng, với ít nhất 8 ngày mỗi tháng có các triệu chứng thỏa mãn tiêu chuẩn chẩn đoán đau nửa đầu.
  • Hào quang đau nửa đầu không kèm đau đầu: Các triệu chứng hào quang mà không có đau đầu ở bệnh nhân >50 tuổi.

Chẩn đoán và đánh giá – Chẩn đoán đau nửa đầu dựa trên bệnh sử phù hợp, khám thực thể và thỏa mãn các tiêu chuẩn chẩn đoán (bảng 3). (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)

Chẩn đoán hình ảnh thần kinh không cần thiết để chẩn đoán đau nửa đầu ở hầu hết bệnh nhân. Chúng tôi khuyến cáo chỉ định chẩn đoán hình ảnh cho những bệnh nhân chọn lọc có bất kỳ đặc điểm nào sau đây (xem mục ‘Xét nghiệm chẩn đoán’ ở dưới):

  • Kết quả khám thần kinh bất thường không giải thích được (ví dụ: yếu cố định mới xuất hiện hoặc mất thị lực)
  • Đặc điểm đau đầu không điển hình (ví dụ: khởi phát đột ngột, đau đầu thay đổi theo tư thế) (bảng 4)
  • Đau đầu không thỏa mãn định nghĩa về đau nửa đầu (bảng 3) hoặc các rối loạn đau đầu nguyên phát khác
  • Có thêm các yếu tố nguy cơ gây đau đầu thứ phát, chẳng hạn như khởi phát sau 50 tuổi, trong thời kỳ mang thai hoặc suy giảm miễn dịch (bảng 4)

Cần chụp cắt lớp vi tính (CT) sọ não không cản quang khẩn cấp cho bệnh nhân có đau đầu khởi phát đột ngột hoặc có khiếm khuyết thần kinh cấp tính để đánh giá xuất huyết dưới nhện (SAH) hoặc đột quỵ. Đối với các bệnh nhân khác cần chẩn đoán hình ảnh, chúng tôi ưu tiên chụp cộng hưởng từ (MRI) sọ não có tiêm thuốc tương phản. Các khảo sát bổ sung có thể được yêu cầu tùy trường hợp.

Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt của đau nửa đầu bao gồm các hội chứng đau đầu nguyên phát khác như đau đầu kiểu căng thẳng và đau đầu cụm (bảng 5), và đau đầu thứ phát do các bệnh lý khác như đột quỵ hoặc viêm màng não (bảng 4). (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)

Chẩn đoán phân biệt của hào quang đau nửa đầu bao gồm cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA) và co giật (bảng 6). Các triệu chứng hào quang thị giác cũng có thể giống với các triệu chứng của bong võng mạc hoặc bong dịch kính sau, hoặc ảo giác do các bệnh lý thoái hóa thần kinh hoặc tâm thần.

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here