Đánh giá đau đầu ở người lớn

TÓM TẮT

Phân biệt các hội chứng đau đầu nguyên phát – Mặc dù đau đầu kiểu căng thẳng từng đợt (TTH) là loại đau đầu thường gặp nhất trong các nghiên cứu dựa trên cộng đồng, nhưng đau nửa đầu (migraine) lại là chẩn đoán phổ biến nhất ở những bệnh nhân đến thăm khám y khoa vì đau đầu. Các lâm sàng viên có thể dễ dàng làm quen với các rối loạn đau đầu nguyên phát thường gặp nhất và cách phân biệt chúng (bảng 1). (Xem mục ‘Phân loại’ ở dưới.)

Đánh giá ban đầu – Sử dụng bệnh sử là công cụ chẩn đoán chính, quy trình đánh giá đau đầu ban đầu (sơ đồ 1) cần xác định xem đau đầu là nguyên phát hay thứ phát; nếu là thứ phát, cần xác định nguyên nhân tiềm ẩn có nghiêm trọng hay không. (Xem mục ‘Đánh giá’ ở dưới.)

Đặc điểm đau đầu nguy cơ thấp – Các đặc điểm sau đây có thể dùng làm chỉ dấu cho những bệnh nhân ít có khả năng gặp nguyên nhân tiềm ẩn nghiêm trọng gây đau đầu:

  • Tuổi ≤ 50
  • Các đặc điểm điển hình của đau đầu nguyên phát
  • Tiền sử có những cơn đau đầu tương tự
  • Không có dấu hiệu thần kinh bất thường
  • Không có thay đổi đáng ngại trong kiểu đau đầu thông thường
  • Không có các bệnh đồng mắc nguy cơ cao
  • Không có phát hiện mới hoặc đáng ngại khi khai thác bệnh sử và thăm khám

Những bệnh nhân đau đầu đáp ứng các tiêu chuẩn này không cần thực hiện chẩn đoán hình ảnh. (Xem mục ‘Đặc điểm nguy cơ thấp’ ở dưới.)

Đặc điểm đau đầu nguy cơ cao – Những bệnh nhân có các dấu hiệu nguy hiểm hoặc các đặc điểm khác của nguồn gốc đau đầu thứ phát cần được đánh giá và chụp hình ảnh kịp thời (sơ đồ 1, sơ đồ 2bảng 7). Nhóm này bao gồm bệnh nhân đau đầu dữ dội khởi phát đột ngột (ví dụ: đau đầu kiểu sấm sét), nghi ngờ viêm màng não hoặc viêm não, đau cổ kèm hội chứng Horner gợi ý bóc tách động mạch cổ, khiếm khuyết thần kinh khu trú hoặc phù gai thị gợi ý tăng áp lực nội sọ (ICP), hoặc có các triệu chứng tại hốc mắt và quanh hốc mắt. (Xem mục ‘Đặc điểm nguy cơ cao’, ‘Bệnh nhân cần đánh giá cấp cứu’‘Các tình huống lâm sàng thường gặp’ ở dưới.)

Chuỗi ghi nhớ SNNOOP10 giúp nhắc nhở về các dấu hiệu nguy hiểm (“cờ đỏ”) cho sự hiện diện của các rối loạn nghiêm trọng tiềm ẩn gây đau đầu cấp tính hoặc bán cấp:

  • Systemic symptoms: Triệu chứng toàn thân bao gồm sốt
  • Neoplasm history: Tiền sử ung thư
  • Neurologic deficit: Khiếm khuyết thần kinh (bao gồm giảm ý thức)
  • Onset is sudden: Khởi phát đột ngột và nhanh chóng
  • Older age: Tuổi cao (khởi phát sau 50 tuổi)
  • Pattern change: Thay đổi kiểu đau hoặc mới xuất hiện cơn đau đầu
  • Positional headache: Đau đầu tư thế
  • Precipitated: Kích khởi do hắt hơi, ho hoặc gắng sức
  • Papilledema: Phù gai thị
  • Progressive headache: Đau đầu tiến triển và các biểu hiện không điển hình
  • Pregnancy: Mang thai hoặc hậu sản
  • Painful eye: Đau mắt kèm các đặc điểm thần kinh tự chủ
  • Post-traumatic: Đau đầu xuất hiện sau chấn thương
  • Pathology of the immune system: Bệnh lý hệ miễn dịch hoặc sử dụng liệu pháp ức chế miễn dịch
  • Painkiller medication overuse: Lạm dụng thuốc giảm đau (bao gồm thuốc giảm đau thông thường, ergot, triptan)

Lựa chọn chẩn đoán hình ảnh thần kinh – Chụp cắt lớp vi tính (CT) hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI) sọ não là những phương pháp chẩn đoán hình ảnh ưu tiên cho đau đầu. Việc lựa chọn phương pháp và nhu cầu tiêm thuốc tương phản tĩnh mạch (IV) tùy thuộc vào chỉ định lâm sàng (xem mục ‘Các tình huống lâm sàng thường gặp’ ở dưới). Để đánh giá mạch máu, chụp CT mạch máu (CTA) hoặc cộng hưởng từ mạch máu (MRA) não và cổ được thực hiện như một xét nghiệm bổ sung cho CT hoặc MRI sọ não và thường yêu cầu tiêm thuốc tương phản tĩnh mạch. (Xem mục ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here