TÓM TẮT
Đau dây thần kinh và bệnh lý dây thần kinh sọ – Đau dây thần kinh (Neuralgia) được định nghĩa là những cơn đau kịch phát xảy ra trong vùng phân bố của một dây thần kinh cụ thể nhưng chức năng của dây thần kinh đó vẫn bình thường; trong khi đó, bệnh lý dây thần kinh (Neuropathy) là tình trạng rối loạn chức năng hoặc có thay đổi bệnh lý tại một hoặc nhiều dây thần kinh. Các tình trạng đau dây thần kinh và bệnh lý dây thần kinh sọ gây đau vùng sọ mặt bao gồm (xem Đau dây thần kinh và các bệnh lý thần kinh sọ gây đau ở dưới):
- Đau dây thần kinh sinh ba: Đặc trưng bởi các cơn đau kịch phát tái diễn trong vùng phân bố của một hoặc nhiều nhánh của dây thần kinh sọ V. (Xem Đau dây thần kinh tam thoa ở dưới.)
- Bệnh lý dây thần kinh sinh ba gây đau: Được định nghĩa là tình trạng đau vùng đầu và/hoặc mặt trong vùng phân bố của một hoặc nhiều nhánh dây thần kinh sinh ba, nguyên nhân do một rối loạn khác và là dấu hiệu của tổn thương thần kinh. (Xem Bệnh lý thần kinh tam thoa gây đau ở dưới.)
- Hội chứng Cluster-tic: Là sự kết hợp giữa đau đầu cụm (cluster headache) và đau dây thần kinh sinh ba đồng thời. Hội chứng này đặc trưng bởi các cơn đau của đau dây thần kinh sinh ba kèm theo đau đầu cụm với các hiện tượng tự chủ. (Xem Hội chứng đau đầu cụm-tic ở dưới.)
- Đau dây thần kinh thiệt hầu: Được định nghĩa là những cơn đau kịch phát tại các vùng do dây thần kinh sọ IX chi phối. (Xem Đau dây thần kinh thiệt hầu ở dưới.)
- Đau dây thần kinh trung gian: Là một rối loạn hiếm gặp với đặc trưng là các cơn đau ngắn, kịch phát cảm nhận được ở ống tai. (Xem Đau dây thần kinh trung gian ở dưới.)
- Đau dây thần kinh vùng tai: Bao gồm đau dây thần kinh tai lớn và đau dây thần kinh tai-thái dương. Đây là những rối loạn hiếm gặp gây ra các cơn đau kịch phát ở tai và các cấu trúc lân cận. (Xem Đau dây thần kinh tai ở dưới.)
- Đau dây thần kinh chẩm: Đặc trưng bởi những cơn đau nhói kịch phát trong vùng phân bố của dây thần kinh chẩm lớn, chẩm nhỏ và/hoặc dây thần kinh chẩm thứ ba, đôi khi kèm theo giảm cảm giác hoặc dị cảm tại vùng bị ảnh hưởng. (Xem Đau dây thần kinh chẩm ở dưới.)
Các nguyên nhân gây đau mặt khác – Bao gồm các tình trạng sau:
- Viêm dây thần kinh thị giác: Đặc trưng bởi tình trạng đau sau nhãn cầu thứ phát sau quá trình khử myelin của dây thần kinh thị giác, kèm theo suy giảm thị lực trung tâm. (Xem Viêm dây thần kinh thị giác ở dưới.)
- Đau đầu do liệt dây thần kinh vận nhãn thiếu máu cục bộ: Là tình trạng đau một bên vùng trán và/hoặc quanh ổ mắt do tổn thương thiếu máu cục bộ của các dây thần kinh sọ III, IV hoặc VI cùng bên (các dây điều khiển vận động nhãn cầu). (Xem Đau đầu do liệt dây thần kinh vận nhãn thiếu máu cục bộ ở dưới.)
- Hội chứng Tolosa-Hunt: Biểu hiện bằng tình trạng đau ổ mắt một bên kèm theo liệt một hoặc nhiều dây thần kinh sọ III, IV hoặc VI, nguyên nhân do viêm u hạt tại xoang hang, khe ổ mắt trên hoặc trong ổ mắt. (Xem Hội chứng Tolosa-Hunt ở dưới.)
- Hội chứng cảm giao nhãn-sinh ba: Bao gồm tình trạng đau nóng rát vùng mặt một bên liên tục, kèm theo giảm cảm giác và/hoặc dị cảm trong vùng phân bố của nhánh mắt dây thần kinh sinh ba, đồng thời có sụp mi và co đồng tử. (Xem Hội chứng mắt-giao cảm cạnh tam thoa ở dưới.)
- Bệnh lý thần kinh liệt vận nhãn đau tái hồi: Đặc trưng bởi các đợt liệt tái diễn của một hoặc nhiều dây thần kinh sọ vận nhãn, thường là dây III, kèm theo đau đầu cùng bên. (Xem ‘Bệnh lý thần kinh liệt vận nhãn đau tái phát’ ở dưới.)
- Hội chứng miệng nóng rát: Đặc trưng bởi cảm giác nóng rát trong khoang miệng mà không tìm thấy nguyên nhân y khoa hoặc nha khoa. Cơn đau có thể khu trú ở lưỡi hoặc chỉ ở đầu lưỡi, có thể kèm theo dị cảm, thay đổi vị giác và/hoặc cảm giác khô miệng. (Xem ‘Hội chứng miệng nóng rát’ ở dưới.)
- Hội chứng tai đỏ: Là một bệnh lý ít gặp đặc trưng bởi tình trạng đỏ da và đau nóng rát một bên tai, vùng mặt lân cận hoặc một nửa sọ. Các triệu chứng có thể xuất hiện tự phát hoặc do kích thích bởi tiếp xúc, nhiệt, cử động cổ, ăn uống hoặc các tác nhân khác. (Xem ‘Hội chứng tai đỏ’ ở dưới.)
- Đau mặt vô căn kéo dài: Đặc trưng bởi tình trạng đau mặt và/hoặc đau vùng miệng kéo dài mà không có khiếm khuyết thần kinh. Các tiểu phẫu hoặc tổn thương vùng mặt, răng hoặc nướu có thể khởi phát triệu chứng, và tình trạng này vẫn tồn tại sau khi vết thương đã lành mà không có nguyên nhân tại chỗ rõ ràng. Cơn đau thường khu trú ở rãnh mũi má hoặc một bên cằm nhưng có thể lan rộng ra các vùng khác của mặt và cổ. (Xem ‘Đau mặt vô căn kéo dài’ ở dưới.)
- Đau thần kinh trung ương: Gây ra bởi tổn thương hoặc rối loạn chức năng trong hệ thần kinh trung ương. Hai nguyên nhân chính được ghi nhận là đau thần kinh trung ương do xơ cứng rải rác và đau trung ương sau đột quỵ. (Xem ‘Đau mặt do bệnh lý thần kinh trung ương’ ở dưới và “Đau mặt do bệnh lý thần kinh trung ương”.)
Các nguyên nhân gây đau vùng sọ mặt khác bao gồm: ung thư, đau răng, hội chứng khớp thái dương hàm, viêm động mạch tế bào khổng lồ, các tổn thương không viêm ảnh hưởng đến động mạch cảnh cổ hoặc động mạch đốt sống, đau sau chấn thương và sau phẫu thuật, và các loại đau đầu nguyên phát. (Xem ‘Các nguyên nhân thứ phát’ ở dưới.)