TÓM TẮT
-
Thuật ngữ
Rối loạn sử dụng chất được định nghĩa là một mô hình sử dụng chất không thích nghi, gây ra các vấn đề về mặt xã hội, pháp lý hoặc nghề nghiệp cho cá nhân đó. Phụ thuộc chất đề cập đến nhu cầu về thể chất hoặc tâm lý đối với một chất nào đó. (Xem ‘Định nghĩa’ ở dưới.)
-
Rối loạn sử dụng chất và sự lây truyền HIV
Rối loạn sử dụng chất là tác nhân chính dẫn đến sự lây lan của virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) thông qua các hành vi nguy cơ cao, xảy ra khi trong trạng thái say/ngấm thuốc hoặc trong quá trình tìm kiếm thuốc. Các hành vi này bao gồm dùng chung kim tiêm không vô trùng, mại dâm và quan hệ tình dục trong nhóm đối tượng nguy cơ cao là những người tiêm chích ma túy. (Xem ‘Rối loạn sử dụng chất và truyền nhiễm HIV’ ở dưới.)
-
Phòng ngừa lây truyền HIV ở bệnh nhân rối loạn sử dụng chất
Các lâm sàng điều trị rối loạn sử dụng chất thường có thể ngăn ngừa lây truyền HIV bằng cách chỉ định dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP) và dự phòng sau phơi nhiễm (PEP). (Xem ‘Phòng ngừa truyền nhiễm HIV ở bệnh nhân bị rối loạn sử dụng chất’ ở dưới.)
-
Các bệnh đồng mắc
Rối loạn sử dụng chất trong bệnh lý HIV thường đồng mắc với trầm cảm nặng, rối loạn nhân cách và các đặc điểm nhân cách không thích nghi, viêm phổi, nhiễm khuẩn huyết, nhiễm trùng mô mềm, viêm nội tâm mạc, lao, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, viêm gan virus và đồng nhiễm với virus T-lymphotropic ở người loại I và II. (Xem ‘Bệnh đồng mắc’ ở dưới.)
-
Điều trị
Điều trị rối loạn sử dụng chất ở bệnh nhân HIV bao gồm việc bệnh nhân chấp nhận vai trò người bệnh, giải độc, điều trị các bệnh đồng mắc, điều trị duy trì và phòng ngừa tái phát. (Xem ‘Điều trị rối loạn sử dụng chất trong nhiễm HIV’ ở dưới.)
-
Chấp nhận vai trò người bệnh
Quá trình chấp nhận vai trò người bệnh bao gồm nhiều giai đoạn: tiền suy ngẫm, suy ngẫm, chuẩn bị, hành động và duy trì. (Xem ‘Chấp nhận vai trò người bệnh’ ở dưới.)
-
Giải độc
Giải độc đạt hiệu quả tốt nhất bằng cách giảm liều dần dần chất gây phụ thuộc hoặc sử dụng một loại thuốc khác có tác dụng kéo dài hơn với cơ chế dược lý tương tự. Hội chứng cai Benzodiazepine, barbiturate và rượu có thể gây nguy hiểm đến tính mạng; bệnh nhân cần được giảm liều từ từ bằng một loại benzodiazepine tác dụng kéo dài như chlordiazepoxide. Giải độc opiate thường được thực hiện bằng clonidine. Hiện chưa có hướng dẫn cụ thể cho việc giải độc các chất kích thích tâm thần vận động như cocaine hoặc amphetamine, mặc dù một số lâm sàng khuyến khích sử dụng thuốc chống trầm cảm. (Xem ‘Giải độc’ ở dưới.)
-
Điều trị bệnh lý tâm thần đồng mắc
Trầm cảm nặng, rối loạn lưỡng cực hoặc tâm thần phân liệt đồng mắc được quản lý tốt nhất bằng liệu pháp dược lý thường quy áp dụng cho các bệnh nhân khác mắc các rối loạn này. Rối loạn nhân cách được quản lý tốt nhất thông qua trị liệu tâm lý với việc thiết lập các giới hạn nghiêm ngặt và sự nhất quán từ tất cả các nhân viên y tế chăm sóc bệnh nhân. (Xem ‘Điều trị các bệnh lý tâm thần đồng mắc’ ở dưới.)
-
Điều trị duy trì
Liệu pháp nhóm thường được sử dụng để phục hồi chức năng, điều trị duy trì và phòng ngừa tái phát rối loạn sử dụng chất trong bệnh lý HIV. Các phương pháp điều trị khác bao gồm liệu pháp gây ghê sợ (aversive therapy), ngăn chặn củng cố (blockade of reinforcement), ức chế xung năng (drive suppression) và thay thế gây nghiện (substituted addiction). (Xem ‘Điều trị duy trì để phòng ngừa tái phát’ ở dưới.)