TÓM TẮT
Tỷ lệ biến chứng và tử vong trong phẫu thuật – Với việc áp dụng rộng rãi liệu pháp kháng virus (ART), kết quả phẫu thuật nhìn chung khả quan ở bệnh nhân nhiễm HIV thực hiện nhiều loại phẫu thuật khác nhau. Hầu hết các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ biến chứng và tử vong cao hơn một chút so với nhóm không nhiễm, đặc biệt là ở những bệnh nhân có biến chứng liên quan đến AIDS hoặc số lượng tế bào CD4 thấp. (Xem ‘Nhiễm HIV và tỷ lệ biến chứng, tử vong trong phẫu thuật’ ở dưới.)
Đánh giá tiền phẫu
Tầm soát tiền phẫu cho bệnh nhân nhiễm HIV tương tự như các bệnh nhân khác, bao gồm đánh giá tình trạng tim phổi và các xét nghiệm thường quy: tổng phân tích tế bào máu; định lượng ure máu (BUN), glucose và creatinine; chức năng gan; thời gian prothrombin và thời gian thromboplastin một phần. Cần thực hiện đếm số lượng tế bào CD4 và đo tải lượng virus HIV nếu chưa có kết quả trong vòng 3 tháng trước đó. Việc theo dõi số lượng tế bào CD4 là rất quan trọng vì tình trạng suy giảm miễn dịch có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng sau mổ. (Xem ‘Đánh giá tiền phẫu’ ở dưới.)
Cần rà soát các tương tác thuốc tiềm tàng giữa thuốc kháng virus với các thuốc khởi mê và gây mê. (Xem ‘Đánh giá tiền phẫu’ ở dưới.)
Việc tầm soát nhiễm HIV thường quy cho bệnh nhân phẫu thuật không mang lại hiệu quả về chi phí, cũng như không phải là phương án thay thế hợp lý cho các biện pháp phòng ngừa chuẩn. (Xem ‘Đánh giá tiền phẫu’ ở dưới.)
Quản lý chu phẫu – Khi tình trạng thay đổi ý thức hoặc rối loạn chức năng đường tiêu hóa khiến bệnh nhân không thể dùng thuốc đường uống, cần tạm ngưng tất cả các thuốc kháng virus. Đối với bệnh nhân AIDS, nên tìm kiếm các phương án thay thế đường tiêm cho các thuốc dự phòng nhiễm trùng cơ hội nếu dự kiến thời gian không thể ăn uống kéo dài. (Xem ‘Quản lý chu phẫu’ ở dưới.)
Quản lý hậu phẫu – Hầu hết các trường hợp sốt sau mổ ở bệnh nhân nhiễm HIV đều do các nguyên nhân phổ biến như: nhiễm trùng vị trí đặt catheter tĩnh mạch, viêm phổi, nhiễm trùng đường tiết niệu, viêm tĩnh mạch huyết khối và độc tính của thuốc. Tuy nhiên, cần cân nhắc khả năng nhiễm trùng cơ hội ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch nặng (ví dụ: số lượng tế bào CD4 < 200 tế bào/μL). (Xem ‘Quản lý hậu phẫu’ ở dưới.)
Nguy cơ lây truyền – Sự lây truyền HIV từ bệnh nhân sang nhân viên y tế là rất hiếm. Nguy cơ lây truyền HIV từ nhân viên y tế sang bệnh nhân thông qua quy trình phẫu thuật cũng được đánh giá là cực kỳ thấp và có rất ít trường hợp được ghi nhận trong y văn. Không nên cấm nhân viên y tế nhiễm HIV tham gia các hoạt động chăm sóc bệnh nhân chỉ dựa trên tình trạng nhiễm HIV của họ. (Xem ‘Nguy cơ lây truyền HIV từ nhân viên y tế nhiễm bệnh sang bệnh nhân’ ở dưới.)