TÓM TẮT
Lợi ích và tác hại của sàng lọc – Các bằng chứng tốt nhất hiện có từ những thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy sàng lọc mang lại lợi ích tối đa là ở mức nhỏ trong việc giảm tỷ lệ tử vong do ung thư tuyến tiền liệt và giảm nguy cơ tiến triển thành bệnh lý di căn.
Lợi ích tiềm năng của sàng lọc cần được cân nhắc kỹ lưỡng với các tác hại tiềm ẩn đối với chất lượng cuộc sống, bao gồm nguy cơ dương tính giả, sinh thiết tuyến tiền liệt, lo âu, chẩn đoán quá mức và các biến chứng điều trị. (Xem thêm ‘Lợi ích và tác hại của sàng lọc’ ở dưới.)
Mô hình ra quyết định chia sẻ cho hầu hết bệnh nhân – Đối với nam giới có nguy cơ trung bình, nhiều lâm sàng không đưa ra lời khuyên cụ thể là nên hay không nên sàng lọc. Những nam giới đủ điều kiện sàng lọc cần được tham gia vào quá trình ra quyết định chia sẻ về việc họ có lựa chọn sàng lọc hay không. Sở thích cá nhân của bệnh nhân đối với các kết quả sức khỏe cụ thể là yếu tố quyết định trong việc xác định có sàng lọc ung thư tuyến tiền liệt hay không. Các công cụ hỗ trợ ra quyết định có thể giúp bệnh nhân tiếp nhận thông tin khách quan, đầy đủ và nhất quán. (Xem thêm ‘Ra quyết định chia sẻ’ ở dưới.)
Độ tuổi bắt đầu sàng lọc – Độ tuổi để bắt đầu thảo luận về sàng lọc ung thư tuyến tiền liệt tùy thuộc vào nguy cơ mắc bệnh của bệnh nhân. Chúng tôi dựa vào chủng tộc, tuổi tác và tiền sử gia đình để xác định bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ cao hay nguy cơ trung bình. (Xem thêm ‘Độ tuổi bắt đầu thảo luận sàng lọc’ ở dưới.)
Ở nam giới có nguy cơ trung bình, chúng tôi bắt đầu thảo luận về sàng lọc ở tuổi 50. (Xem thêm ‘Độ tuổi bắt đầu thảo luận sàng lọc’ ở dưới.)
Nam giới được biết hoặc có khả năng mang đột biến gen BRCA1 hoặc BRCA2 hoặc đột biến gen hội chứng Lynch có nguy cơ tăng cao. Việc thảo luận sàng lọc ung thư tuyến tiền liệt có thể bắt đầu sớm từ tuổi 40, tùy thuộc một phần vào loại đột biến cụ thể, mặc dù dữ liệu về hiệu quả của sàng lọc sớm còn hạn chế. Các khuyến nghị cụ thể được thảo luận riêng. (Xem thêm “Nguy cơ ung thư ở người mang gen BRCA1/2”, phần ‘Quản lý nam giới mang gen BRCA1/2 không có ung thư’ và “Hội chứng Lynch (ung thư đại trực tràng không đa polyp di truyền): Sàng lọc và quản lý ung thư”.)
Đối với những nam giới khác có nguy cơ cao mắc ung thư tuyến tiền liệt, bao gồm nam giới da đen và nam giới có tiền sử gia đình mắc ung thư tuyến tiền liệt, chúng tôi đề nghị bắt đầu thảo luận sàng lọc ở độ tuổi từ 40 đến 45. (Xem thêm ‘Độ tuổi bắt đầu thảo luận sàng lọc’ ở dưới.)
Sàng lọc bằng kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) – Nếu quyết định thực hiện sàng lọc ung thư tuyến tiền liệt, xét nghiệm PSA đơn độc là xét nghiệm phù hợp nhất. Chúng tôi đề xuất khoảng cách giữa các lần sàng lọc là từ một đến hai năm. Đối với hầu hết bệnh nhân, chúng tôi đề nghị sàng lọc cho đến 70 tuổi, và ngừng sớm hơn nếu các bệnh đồng mắc làm giới hạn kỳ vọng sống xuống dưới 10 năm. (Xem thêm ‘Ngừng sàng lọc’ ở dưới.)
Phiên giải và theo dõi các kết quả bất thường – Bệnh nhân có giá trị PSA bất thường nên được chuyển đến chuyên khoa tiết niệu để đánh giá thêm. (Xem thêm ‘Chuyển tuyến tiết niệu’ ở dưới.)
- Nam giới có nồng độ PSA trên 10 ng/mL nên được chuyển đến bác sĩ tiết niệu để đánh giá mà không cần làm thêm xét nghiệm nào khác.
- Đối với nam giới có nồng độ PSA từ 4 đến 9,9 ng/mL (bao gồm cả hai giá trị này), chúng tôi thực hiện xét nghiệm PSA lặp lại sau sáu đến tám tuần. Các yếu tố được biết là gây tăng PSA tạm thời cần được xử lý trước khi thực hiện lại xét nghiệm PSA (xem ‘Các lý do tạm hoãn xét nghiệm PSA’ ở dưới). Nam giới có nồng độ PSA lặp lại ≥4 ng/mL nên được chuyển đến bác sĩ tiết niệu để đánh giá.
- Đối với bệnh nhân đang được sàng lọc ung thư tuyến tiền liệt và có sử dụng thuốc ức chế 5-alpha reductase (ARI) để điều trị tăng sản tuyến tiền liệt lành tính (BPH), kết quả PSA cần được hiệu chỉnh trước khi phiên giải (xem ‘Hiệu chỉnh cho thuốc ức chế 5-alpha reductase’ ở dưới). Ngoài ra, bệnh nhân sử dụng finasteride hoặc dutasteride điều trị BPH có nồng độ PSA tăng xác định >0,5 ng/mL (trong bất kỳ khoảng thời gian nào) nên được cân nhắc chuyển đến chuyên khoa tiết niệu. (Xem thêm ‘Chuyển tuyến tiết niệu’ ở dưới.)
Chúng tôi không thực hiện thăm khám trực tràng bằng ngón tay (DRE) như một phần của quy trình sàng lọc (xem ‘Thăm khám trực tràng bằng ngón tay’ ở dưới). Tuy nhiên, nếu thực hiện DRE, những nam giới có nhân, vùng cứng hoặc mất đối xứng khi thăm khám tuyến tiền liệt nên được chuyển đến bác sĩ tiết niệu, bất kể kết quả PSA ra sao. (Xem thêm ‘Chuyển tuyến tiết niệu’ ở dưới.)