TÓM TẮT
Chẩn đoán – Sốt trong chuyển dạ thường được định nghĩa khi nhiệt độ cơ thể người mẹ ≥ 38°C (đo đường miệng). Sốt được phân loại là nhẹ khi nhiệt độ từ 38 đến 39°C và nặng khi > 39°C. (Xem thêm ‘Chẩn đoán sốt’ ở dưới.)
Đánh giá chẩn đoán
- Hỏi bệnh và khám lâm sàng – Các đánh giá này được thực hiện nhằm tìm kiếm những nguyên nhân tiềm tàng gây sốt. Các nguyên nhân nhiễm trùng thường gặp nhất là viêm màng ối lâm sàng, nhiễm trùng đường tiết niệu và nhiễm trùng đường hô hấp (xem ‘Nguyên nhân nhiễm trùng’ ở dưới). Sử dụng gây tê trục thần kinh là nguyên nhân không do nhiễm trùng phổ biến nhất và cũng là nguyên nhân gây sốt trong chuyển dạ thường gặp nhất ở thai đủ tháng. (Xem ‘Sử dụng gây tê trục thần kinh’ ở dưới.)
- Xét nghiệm cho bệnh nhân không có biểu hiện bệnh nặng – Việc xét nghiệm toàn diện không được thực hiện thường quy cho những bệnh nhân sốt trong chuyển dạ nhưng trạng thái chung ổn định và chỉ sốt nhẹ. Việc chỉ định xét nghiệm chọn lọc nên dựa trên chẩn đoán nghi ngờ (ví dụ: viêm màng ối, nhiễm trùng đường tiết niệu và nhiễm trùng hô hấp). (Xem ‘Đánh giá chẩn đoán’ ở dưới.)
Giá trị của việc đếm số lượng bạch cầu (WBC) trong chuyển dạ là hạn chế vì số lượng bạch cầu thường tăng cao trong quá trình chuyển dạ. (Xem ‘Số lượng và công thức bạch cầu’ ở dưới.)
- Xét nghiệm cho bệnh nhân có biểu hiện bệnh nặng và/hoặc sốt ≥ 39°C
- Đếm số lượng bạch cầu: Tăng bạch cầu kèm chuyển trái hoặc tăng bạch cầu non hỗ trợ chẩn đoán nhiễm trùng. (Xem ‘Số lượng và công thức bạch cầu’ ở dưới.)
- Xét nghiệm băng thử nước tiểu (dipstick), soi kính hiển vi và cấy nước tiểu. (Xem ‘Xét nghiệm nước tiểu’ ở dưới.)
- Cấy máu. (Xem ‘Cấy máu’ ở dưới.)
- Định lượng lactate tĩnh mạch: Nồng độ lactate trong chuyển dạ > 4 mmol/L là bất thường. (Xem ‘Nồng độ Lactate’ ở dưới.)
- Xét nghiệm chẩn đoán cúm và SARS-CoV-2 (ở những bệnh nhân có triệu chứng giống cúm). (Xem ‘Xét nghiệm virus hô hấp’ ở dưới.)
Điều trị
- Sử dụng acetaminophen là can thiệp hỗ trợ chính cho bệnh nhân sốt, bất kể nguyên nhân nào. (Xem ‘Nguyên tắc chung’ ở dưới.)
- Điều trị nhiễm trùng tùy thuộc vào tác nhân gây bệnh cụ thể nếu đã xác định được. (Xem ‘Nguyên tắc chung’ ở dưới và ‘Nguyên nhân nhiễm trùng’ ở dưới.)
- Sốt trong chuyển dạ là dấu hiệu lâm sàng khách quan nhất của viêm màng ối lâm sàng; hiện chưa có dấu hiệu lâm sàng hay xét nghiệm nào trong chuyển dạ có thể phân biệt chính xác giữa tình trạng này với sốt do gây tê trục thần kinh. Kháng sinh phổ rộng được chỉ định cho bệnh nhân nghi ngờ viêm màng ối để giảm thiểu tỷ lệ bệnh tật cho mẹ và trẻ sơ sinh do nhiễm trùng (nếu có) (sơ đồ 1). Việc lựa chọn kháng sinh và các bằng chứng hỗ trợ điều trị viêm màng ối được xem xét trong một mục riêng. (Xem “Viêm màng ối lâm sàng”.)
Hệ lụy
- Khi sốt ở mẹ do quá trình nhiễm trùng, việc lây truyền nhiễm trùng từ mẹ sang thai nhi/trẻ sơ sinh trong giai đoạn quanh sinh là một mối lo ngại lớn vì tiềm ẩn nguy cơ gây bệnh tật và tử vong cho trẻ sơ sinh. Điều trị kháng sinh cho mẹ phù hợp trong chuyển dạ giúp giảm nguy cơ nhiễm trùng ở thai nhi/trẻ sơ sinh cũng như các biến chứng cho mẹ. (Xem ‘Người mẹ’ ở dưới.)
- Tăng thân nhiệt ở mẹ liên quan đến gây tê trục thần kinh có thể đi kèm với kết cục sơ sinh bất lợi, ngay cả khi không có bằng chứng nhiễm trùng; tuy nhiên, vấn đề này vẫn còn gây tranh cãi, một phần vì khó có thể loại trừ hoàn toàn sự hiện diện của nhiễm trùng. Quyết định thực hiện tầm soát nhiễm trùng ở trẻ sơ sinh có mẹ sốt và sử dụng gây tê trục thần kinh nên được cân nhắc dựa trên nhiều yếu tố ngoài nhiệt độ của mẹ, chẳng hạn như tuổi thai, các dấu hiệu lâm sàng ở mẹ và trẻ sơ sinh. (Xem ‘Trẻ sơ sinh’ ở dưới.)