TÓM TẮT
Sinh lý bệnh – Đông máu rải rác trong lòng mạch (DIC) là biểu hiện thứ phát của một nguyên nhân cơ bản gây ra tình trạng kích hoạt không kiểm soát quá trình đông máu và tiêu sợi huyết. (Xem ‘Sinh lý bệnh’ ở dưới.)
Nguyên nhân cơ bản – DIC thường xảy ra trong bối cảnh một trong các biến chứng thai kỳ sau:
- Nhau bong non
- Tiền sản giật nặng/sản giật/hội chứng HELLP (tan máu, tăng men gan, giảm tiểu cầu)
- Thuyên tắc nước ối
- Gan nhiễm mỡ cấp trong thai kỳ
- Nhiễm khuẩn huyết liên quan đến thai kỳ (ví dụ: sẩy thai nhiễm trùng, viêm màng đệm màng ối nặng hoặc viêm nội mạc tử cung sau sinh nặng)
Riêng băng huyết sau sinh (PPH) thường không gây ra bệnh lý đông máu do tiêu thụ trừ khi có sự gia tăng giải phóng yếu tố mô, nhưng có thể dẫn đến bệnh lý đông máu do pha loãng. Tình trạng thai lưu kéo dài nhiều tuần hiện nay là nguyên nhân hiếm gặp gây DIC do các trường hợp này thường được phát hiện sớm và xử trí kịp thời. (Xem ‘Nguyên nhân’ ở dưới.)
Tỷ lệ hiện mắc – Tỷ lệ DIC trong thai kỳ dao động từ 0,03% đến 0,35% trong các nghiên cứu cộng đồng, hoặc 12,5 trên 10.000 ca nhập viện sinh con (0,13%). Mặc dù tỷ lệ hiện mắc chung của DIC trong thai kỳ là thấp, nhưng tần suất xuất hiện DIC ở những bệnh nhân có biến chứng thai kỳ cụ thể, chẳng hạn như thuyên tắc nước ối hoặc nhau bong non, có thể rất cao. (Xem ‘Tỷ lệ hiện mắc’ ở dưới.)
Chẩn đoán – Chẩn đoán DIC cấp tính ở bệnh nhân mang thai được xác lập khi bối cảnh lâm sàng phù hợp và có bằng chứng xét nghiệm về bệnh lý đông máu do tiêu thụ, đặc trưng bởi: giảm tiểu cầu, tiêu thụ các yếu tố đông máu (ví dụ: kéo dài thời gian prothrombin [hoặc chỉ số INR] và thời gian thromboplastin một phần hoạt hóa; giảm fibrinogen), và tiêu sợi huyết (ví dụ: tăng D-dimer, bằng chứng tiêu sợi huyết tăng tốc trên đồ thị đàn hồi huyết khối). Triệu chứng xuất huyết thường xuất hiện nhưng không bắt buộc để chẩn đoán. (Xem ‘Triệu chứng lâm sàng’, ‘Đánh giá chẩn đoán’ và ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt với DIC trong thai kỳ bao gồm các nguyên nhân gây xuất huyết, huyết khối và/hoặc tổn thương cơ quan khác, những tình trạng này có thể cùng tồn tại với DIC hoặc góp phần vào cơ chế bệnh sinh. Các nguyên nhân này bao gồm: băng huyết sau sinh kèm bệnh lý đông máu do pha loãng, bệnh vi mạch huyết khối nguyên phát, bệnh von Willebrand, hội chứng kháng phospholipid, thuyên tắc phổi, giảm tiểu cầu do heparin và phản ứng truyền máu. (Xem ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)