Người sống sót sau ung thư: Tổng quan về khả năng sinh sản và kết cục thai kỳ

TÓM TẮT

Nhiều nghiên cứu theo dõi dọc từ các sổ đăng ký về người sống sót sau ung thư trẻ em cho thấy kết quả thai kỳ và sức khỏe con cái nhìn chung là khả quan 5-11. Tuy nhiên, đã có báo cáo về việc gia tăng nguy cơ sinh non, trẻ nhẹ cân và tiền sản giật.

Mặc dù kết quả về khả năng sinh sản và thai kỳ nhìn chung là khả quan, một nghiên cứu đoàn hệ cho thấy nhận thức của bệnh nhân về nguy cơ vô sinh không tương đồng với nguy cơ thực tế (được đánh giá thông qua độc tính trên tuyến sinh dục của phác đồ điều trị, đặc điểm chu kỳ kinh nguyệt và xét nghiệm dự trữ buồng trứng) 12.

Các hạn chế thường gặp của những dữ liệu hiện có bao gồm:

  • Thiết kế nghiên cứu hồi cứu.
  • Hiệu chỉnh các yếu tố gây nhiễu chưa đầy đủ.
  • Sai số nhớ lại (recall bias).
  • Số lượng biến cố bất lợi ghi nhận được còn ít.
  • Mất dấu theo dõi.
  • Phân loại sai và báo cáo thiếu một số kết quả.
  • Độ tin cậy chưa chắc chắn của dữ liệu thu thập từ các cuộc khảo sát và sổ đăng ký sinh – ung thư liên kết.

Các nghiên cứu tiêu biểu bao gồm:

  • Nghiên cứu Người sống sót sau Ung thư Trẻ em tại Hoa Kỳ (CCSS):

    Đây là cơ sở dữ liệu lớn nhất về nguy cơ vô sinh ở những người sống sót sau ung thư. Đây là một nghiên cứu đoàn hệ bao gồm hàng nghìn bệnh nhân sống sót sau ung thư 5 năm từ 26 cơ sở y tế tại Canada và Hoa Kỳ, những người có độ tuổi dưới 21 khi chẩn đoán (trong khoảng thời gian từ 01/01/1970 đến 31/12/1986) và mắc các bệnh lý ác tính đủ điều kiện: bạch cầu, ung thư hệ thần kinh trung ương (CNS), lymphoma Hodgkin, lymphoma không Hodgkin, u Wilms, u nguyên bào thần kinh, sarcoma mô mềm hoặc u xương.

    Trong một loạt các công bố, tỷ lệ sinh sản ở nữ giới sống sót sau ung thư và bạn đời nữ của nam giới sống sót sau ung thư đã được so sánh với nhóm đối chứng là anh chị em ruột 5-9.

  • Đoàn hệ Trọn đời St Jude (SJLIFE):

    SJLIFE được thành lập năm 2007 nhằm đánh giá y khoa tình trạng sức khỏe của những người sống sót sau ung thư trẻ em được điều trị tại Bệnh viện Nghiên cứu Trẻ em St Jude (Memphis, TN, Hoa Kỳ) 10. Mục tiêu của nghiên cứu bao gồm việc điều chỉnh Tiêu chuẩn Thuật ngữ Chung về Biến cố Bất lợi (CTCAE) của Viện Ung thư Quốc gia (Hoa Kỳ) và bổ sung các bảng phân độ từ các nguồn khác cho những bệnh lý mạn tính chưa có hoặc chưa được đưa vào CTCAE một cách đầy đủ.

    Tiêu chuẩn lựa chọn đã được mở rộng vào năm 2015 để bao gồm những người sống sót sau 5 năm ở mọi lứa tuổi.

  • Nghiên cứu Người sống sót sau Ung thư Trẻ em tại Anh (BCCSS):

    BCCSS là một đoàn hệ quy mô lớn dựa trên quần thể với gần 18.000 người sống sót sau ung thư trẻ em trong 5 năm 11. Sử dụng dữ liệu từ Sổ đăng ký Quốc gia về Khối u Trẻ em tại Anh, những đối tượng được xác định là chẩn đoán ung thư trong độ tuổi từ 0 đến 14 trong giai đoạn từ năm 1940 đến 1991.

CÁC VẤN ĐỀ PHỔ BIẾN VỀ KHẢ NĂNG SINH SẢN

Nữ giới

TÓM TẮT

Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản ở bệnh nhân sau điều trị ung thư – Thuốc gây độc tế bào, xạ trị, phẫu thuật và chính diễn tiến của bệnh đều có thể gây vô sinh, có thể là tạm thời hoặc vĩnh viễn. Mức độ rủi ro phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm:

  • Loại và giai đoạn ung thư
  • Nhóm thuốc và liều tích lũy
  • Vùng xạ trị, số lần điều trị và liều tích lũy
  • Phạm vi phẫu thuật
  • Tuổi (ví dụ: trước dậy thì, sau dậy thì, gần mãn kinh)
  • Giới tính
  • Yếu tố di truyền

Các can thiệp bảo tồn khả năng sinh sản – Ở cả nam và nữ, việc che chắn tuyến sinh dục khi xạ trị và hạn chế phạm vi phẫu thuật (nếu có thể) sẽ giúp bảo tồn khả năng sinh sản. Trữ đông phôi hoặc noãn là phương pháp đã được chứng minh hiệu quả, ngoài ra chức năng buồng trứng đôi khi có thể được bảo tồn thông qua kỹ thuật di chuyển tuyến sinh dục. Phương pháp chính để bảo tồn khả năng sinh sản ở nam giới là trữ đông tinh trùng. (Xem thêm ‘Các kỹ thuật bảo tồn khả năng sinh sản’ ở dưới.)

Đánh giá khả năng sinh sản – Việc đánh giá tiềm năng sinh sản sau điều trị ung thư là một thách thức vì khả năng này có thể suy giảm tạm thời. Không thể dự đoán chính xác liệu tình trạng vô sinh là tạm thời hay vĩnh viễn, cũng như thời gian hồi phục; đồng thời, việc tuyến sinh dục vẫn hoạt động không đảm bảo chắc chắn rằng bệnh nhân sẽ có thai. Tiềm năng sinh sản ở phụ nữ được đánh giá thông qua các xét nghiệm như nồng độ hormone kháng Müllerian (AMH) và ở nam giới thông qua phân tích tinh dịch đồ. (Xem thêm ‘Đánh giá tiềm năng sinh sản’ ở dưới.)

Điều trị vô sinh – Phương pháp điều trị vô sinh nhìn chung tương tự như đối với những bệnh nhân không có tiền sử ung thư. Ngoại lệ là những bệnh nhân sau điều trị ung thư vú có thụ thể estrogen dương tính; những bệnh nhân này có thể hưởng lợi từ việc kích thích rụng trứng bằng tamoxifen hoặc các thuốc ức chế aromatase. Đối với phụ nữ điều trị ung thư được chẩn đoán trong vòng 5 năm trước khi thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm, việc sử dụng noãn hiến cho thấy tỷ lệ trẻ sinh ra sống cao hơn so với sử dụng noãn tự thân. (Xem thêm ‘Điều trị vô sinh’ ở dưới.)

Ảnh hưởng của điều trị đối với kết cục thai kỳ – Các dữ liệu hiện có không cho thấy hóa trị trước đó gây ảnh hưởng xấu đến nguy cơ sảy thai, thai lưu hoặc cân nặng khi sinh. Tuy nhiên, thai kỳ ở những phụ nữ từng xạ trị vùng chậu có liên quan đến các biến chứng như sảy thai, sinh non, trẻ nhẹ cân và nhau cài gai. Cân nặng khi sinh của trẻ em có cha/mẹ từng xạ trị ở bất kỳ vị trí nào (kể cả ngoài vùng chậu nữ) thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với con của những bệnh nhân chỉ điều trị bằng hóa trị. (Xem thêm ‘Kết cục ở trẻ em’ ở dưới.)

Ảnh hưởng đối với thế hệ con cái

Nguy cơ dị tật – Cha mẹ từng điều trị ung thư thời thơ ấu bằng hóa trị, xạ trị hoặc phối hợp cả hai không làm tăng nguy cơ con cái mắc các dị tật bẩm sinh hoặc bất thường nhiễm sắc thể. (Xem thêm ‘Nguy cơ bất thường nhiễm sắc thể và bẩm sinh’ ở dưới.)

Nguy cơ ung thư – Con cái của những bệnh nhân sau điều trị ung thư không có nguy cơ ung thư cao hơn, trừ khi khối u của cha mẹ là một thành phần của hội chứng di truyền. (Xem thêm ‘Nguy cơ ung thư ở con cái’ ở dưới.)

Nguy cơ tái phát ung thư – Ngoại trừ trường hợp bệnh lý nguyên bào nuôi, thai kỳ không làm ảnh hưởng đến nguy cơ tái phát của bất kỳ loại ung thư nào. (Xem thêm ‘Ảnh hưởng của thai kỳ đối với sự tái phát ung thư’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here