TÓM TẮT
Dự phòng nhu cầu hồi sức – Tại Hoa Kỳ, khoảng 10% trẻ sơ sinh cần một số can thiệp khi sinh và 1% cần hồi sức tích cực. Nhân viên y tế được đào tạo bài bản cùng các thiết bị hồi sức phù hợp phải luôn sẵn sàng tại mọi nơi tiếp nhận sinh, bất kể có dự báo trước các vấn đề hay không (bảng 1). (Xem mục ‘Dự phòng nhu cầu hồi sức’ ở dưới.)
Sinh con nguy cơ cao – Những trẻ có khả năng cần hồi sức cao hơn có thể được xác định thông qua các yếu tố nguy cơ từ mẹ, biến chứng thai kỳ, tình trạng thai nhi và các biến chứng chu sinh (bảng 2). Trẻ sinh non có nguy cơ cần hồi sức cao hơn so với trẻ sinh đủ tháng. Các cán bộ y tế thành thạo kỹ năng hồi sức sơ sinh cần có mặt và thiết bị phải được chuẩn bị sẵn sàng trước khi trẻ có nguy cơ cao chào đời (bảng 1). (Xem mục ‘Sinh con nguy cơ cao’ và ‘Trẻ sinh non’ ở dưới.)
Tư vấn trước sinh và xem xét ngưng hồi sức – Các quyết định về mức độ chăm sóc sau sinh nên được thảo luận và thống nhất giữa đội ngũ điều trị và cha mẹ/người chăm sóc trước khi sinh. Trong một số trường hợp, cha mẹ/người chăm sóc có thể lựa chọn hạn chế các can thiệp cho trẻ sơ sinh sau sinh, bao gồm cả hồi sức. Đây là những quyết định khó khăn và cần dựa trên sự hiểu biết rõ ràng về tiên lượng cũng như các giá trị và nguyện vọng của cha mẹ/người chăm sóc. (Xem mục ‘Tư vấn trước sinh’ ở dưới.)
Hồi sức – Chăm sóc ban đầu thường quy bao gồm giữ ấm, làm thông đường thở, lau khô và kích thích trẻ. (Xem mục ‘Các bước ban đầu’ ở dưới.)
Nhu cầu hồi sức được xác định dựa trên nỗ lực hô hấp và nhịp tim (HR) của trẻ sơ sinh (sơ đồ 1) (xem mục ‘Hồi sức’ ở dưới):
- Trẻ ngưng thở/thở ngáp với nhịp tim <100 lần/phút (bpm) – Những trẻ này cần được hồi sức ngay lập tức (sơ đồ 1), bao gồm (xem mục ‘Ngưng thở/thở ngáp và nhịp tim <100 bpm’ ở dưới):
- Thông khí áp lực dương (PPV) – PPV được thực hiện với tần số 40 đến 60 lần/phút bằng thiết bị hồi sức T-piece, bóng tự phồng hoặc bóng thổi có dòng khí. Đối với hầu hết trẻ sơ sinh, chúng tôi đề xuất dùng thiết bị hồi sức T-piece hơn là bóng tự phồng nếu nguồn lực cho phép và nhân viên lâm sàng được đào tạo đầy đủ (Khuyến cáo 2C). Bóng tự phồng nên được chuẩn bị sẵn làm thiết bị dự phòng trong trường hợp mất nguồn cấp khí. (Xem mục ‘Thông khí áp lực dương’ ở dưới.)
Khi thực hiện PPV, chúng tôi khuyến cáo sử dụng phân suất oxy hít vào (FiO2) thấp (ví dụ: 0,21 đến 0,3) thay vì oxy 100% (Khuyến cáo 1B). Trong thực hành lâm sàng, chúng tôi bắt đầu hồi sức bằng khí trời (FiO2 0,21) đối với trẻ >30 tuần thai và sử dụng FiO2 0,3 cho trẻ ≤30 tuần thai. Ngoại trừ những trẻ đang được ép tim, khi đó PPV ban đầu được cung cấp với FiO2 1,0. Sau đó, FiO2 được điều chỉnh tùy theo nhu cầu để duy trì độ bão hòa oxy tiền ống động mạch mục tiêu trên máy đo nồng độ oxy trong máu (bảng 3). (Xem mục ‘Nồng độ oxy’ và ‘Đo nồng độ oxy trong máu’ ở dưới.)
- Ép tim – Ép tim được chỉ định nếu nhịp tim của trẻ vẫn <60 bpm mặc dù đã thông khí đầy đủ trong 30 giây. (Xem mục ‘Ép tim’ ở dưới.)
- Epinephrine – Nếu nhịp tim vẫn <60 bpm mặc dù đã thực hiện PPV và ép tim đầy đủ, chỉ định dùng Epinephrine đường tĩnh mạch (bảng 5). Đặt catheter tĩnh mạch rốn là phương pháp nhanh nhất để thiết lập đường truyền tĩnh mạch ở trẻ sơ sinh (hình 2). (Xem mục ‘Epinephrine’ ở dưới và “Tiếp cận tĩnh mạch cấp cứu và theo kế hoạch ở trẻ em”, phần ‘Đặt catheter tĩnh mạch rốn cấp cứu’.)
- Đặt nội khí quản – Việc kiểm soát đường thở triệt để hơn (như đặt nội khí quản (bảng 4A-B) hoặc đặt mặt nạ thanh quản (hình 4)) là cần thiết khi PPV không hiệu quả, kéo dài hoặc khi đang thực hiện ép tim. (Xem mục ‘Đặt nội khí quản’ và ‘Mặt nạ thanh quản (LMA)’ ở dưới.)
- Thông khí áp lực dương (PPV) – PPV được thực hiện với tần số 40 đến 60 lần/phút bằng thiết bị hồi sức T-piece, bóng tự phồng hoặc bóng thổi có dòng khí. Đối với hầu hết trẻ sơ sinh, chúng tôi đề xuất dùng thiết bị hồi sức T-piece hơn là bóng tự phồng nếu nguồn lực cho phép và nhân viên lâm sàng được đào tạo đầy đủ (Khuyến cáo 2C). Bóng tự phồng nên được chuẩn bị sẵn làm thiết bị dự phòng trong trường hợp mất nguồn cấp khí. (Xem mục ‘Thông khí áp lực dương’ ở dưới.)
- Trẻ thở gắng sức hoặc tím tái kéo dài với nhịp tim ≥100 bpm – Các biện pháp hỗ trợ cho những trẻ này bao gồm (xem mục ‘Thở gắng sức hoặc tím tái kéo dài và nhịp tim ≥100 bpm’ ở dưới):
- Đặt tư thế đường thở tối ưu và hút sạch dịch tiết (xem mục ‘Đường thở’ ở dưới)
- Cung cấp oxy hỗ trợ khi cần thiết để đạt được SpO2 tiền ống động mạch mục tiêu (bảng 3) (xem mục ‘Nồng độ oxy’ và ‘Đo nồng độ oxy trong máu’ ở dưới)
- Trẻ khỏe mạnh, tình trạng tốt – Trẻ sinh từ ≥35 tuần thai có trương lực cơ tốt, khóc to hoặc thở không khó khăn có thể ở cùng mẹ và được chăm sóc tại phòng sơ sinh. (Xem “Tổng quan về quản lý thường quy trẻ sơ sinh khỏe mạnh”.)
Trẻ sinh non <35 tuần thai cần mức độ chăm sóc cao hơn (ví dụ: đơn vị chăm sóc sơ sinh cấp độ 2 hoặc 3) và việc phân loại chăm sóc cuối cùng dựa trên tuổi thai và tình trạng lâm sàng. Hỗ trợ hô hấp cho trẻ sơ sinh non được thảo luận chi tiết trong một phần riêng. (Xem “Hội chứng suy hô hấp (RDS) ở trẻ sơ sinh non: Điều trị”, phần ‘Áp lực đường thở dương không xâm lấn’ và “Hỗ trợ hô hấp, cung cấp oxy và theo dõi oxy ở trẻ sơ sinh”.)
Ngừng hồi sức – Các nỗ lực hồi sức có thể được dừng lại sau 20 phút nếu trẻ không có dấu hiệu sinh tồn (không có nhịp tim hoặc không có nỗ lực hô hấp trong >10 phút). (Xem mục ‘Ngừng hồi sức’ ở dưới.)
Chăm sóc sau hồi sức – Trẻ cần hồi sức có nguy cơ gặp các biến chứng sau hồi sức. Sau khi hồi sức thành công, trẻ cần được chăm sóc tại nơi có khả năng theo dõi sát và cung cấp các can thiệp tiếp theo phù hợp. (Xem mục ‘Sau hồi sức’ ở dưới.)