Xử trí các triệu chứng tâm thần kinh của sa sút trí tuệ

TÓM TẮT

Sàng lọc – Các triệu chứng tâm thần vận động rất phổ biến trong sa sút trí tuệ (bảng 1), là nguyên nhân dẫn đến việc bệnh nhân phải nhập viện dưỡng lão và gây áp lực lớn cho người chăm sóc. Vì bệnh nhân thường không tự khởi xướng kể về các triệu chứng này, lâm sàng viên nên chủ động khai thác thường quy. (Xem mục ‘Đánh giá triệu chứng’ ở dưới.)

Đánh giá các nguyên nhân cơ bản – Khi một bệnh nhân sa sút trí tuệ xuất hiện các triệu chứng tâm thần vận động, bước đầu tiên là xác định các yếu tố khởi phát, đồng thời loại trừ và điều trị các nguyên nhân y khoa hoặc tình trạng sảng chồng lấp (bảng 4). (Xem mục ‘Đánh giá nguyên nhân cơ bản’ ở dưới.)

Các phương pháp tiếp cận phi dược lý – Các liệu pháp môi trường, hành vi và những can thiệp phi dược lý khác có thể mang lại hiệu quả trên nhóm đối tượng này. Khi phù hợp, những phương pháp này được ưu tiên hơn so với dùng thuốc do thuốc thường có tỷ lệ tác dụng không mong muốn cao. (Xem mục ‘Liệu pháp phi dược lý’ ở dưới.)

Kiểm soát đau – Đau có thể làm trầm trọng thêm các rối loạn hành vi ở bệnh nhân sa sút trí tuệ. Cần kết hợp cả phỏng vấn và quan sát để xác định xem việc báo đau của bệnh nhân là biểu hiện của sự đau đớn thực sự, sự ám ảnh về cơn đau hay là tín hiệu của một dạng khó chịu khác. (Xem mục ‘Đánh giá đau’ ở dưới.)

Việc kiểm soát đau phù hợp bao gồm tiếp cận theo bậc (stepped-care approach), bắt đầu với liều thấp và tăng liều chậm. (Xem mục ‘Kiểm soát đau’ ở dưới.)

Vai trò của thuốc ức chế cholinesterase – Các thuốc ức chế cholinesterase không mang lại sự cải thiện có ý nghĩa lâm sàng đối với các triệu chứng tâm thần vận động ở bệnh nhân sa sút trí tuệ. Tuy nhiên, bệnh nhân thường vẫn được điều trị bằng các thuốc này vì chúng giúp cải thiện nhẹ chức năng nhận thức. (Xem mục ‘Thuốc điều trị sa sút trí tuệ’ ở dưới và “Thuốc ức chế cholinesterase trong điều trị sa sút trí tuệ”.)

Trầm cảm – Thử nghiệm điều trị bằng các thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc (SSRI) được đề xuất để điều trị trầm cảm trong bệnh Alzheimer (AD) (Khuyến cáo 2C). Citalopram thường được sử dụng do có thể mang lại lợi ích bổ sung cho các triệu chứng tâm thần vận động khác; liều citalopram không được vượt quá 20 mg/ngày ở bệnh nhân cao tuổi. Sertraline là một lựa chọn thay thế cho citalopram đã được nghiên cứu kỹ lưỡng. Nên tránh dùng các thuốc chống trầm cảm ba vòng do tác dụng phụ và tương tác thuốc. (Xem mục ‘Thuốc chống trầm cảm’‘Trầm cảm’ ở dưới.)

Kích động nặng hoặc kháng trị – Các thuốc an thần kinh có hiệu quả hạn chế và liên quan đến việc tăng tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân sa sút trí tuệ. Tuy nhiên, các lựa chọn thay thế là rất hạn chế khi triệu chứng trở nên nghiêm trọng, gây mất khả năng hoạt động và/hoặc đe dọa an toàn của bệnh nhân hoặc người chăm sóc dù đã áp dụng các can thiệp an toàn hơn.

Khi việc sử dụng thuốc an thần kinh được cho là cần thiết, chúng tôi đề xuất dùng liều thấp olanzapine hoặc quetiapine (Khuyến cáo 2C) sau khi đã thông báo cho gia đình về nguy cơ tử vong. Khuyến cáo sử dụng ngắn hạn nếu có thể, đồng thời thường xuyên đánh giá lại giữa lợi ích và nguy cơ. (Xem mục ‘Thuốc an thần kinh’ ở dưới.)

Bệnh nhân sa sút trí tuệ thể Lewy (DLB) có nguy cơ gặp tác dụng phụ nghiêm trọng đặc biệt cao khi dùng các thuốc an thần kinh. Khi bắt buộc phải dùng dược lý để điều trị các triệu chứng hành vi ở những bệnh nhân này, chỉ nên sử dụng liều rất thấp của một số thuốc an thần kinh không điển hình (ví dụ: quetiapine hoặc clozapine). (Xem mục “Dịch tễ học, bệnh lý và cơ chế bệnh sinh của sa sút trí tuệ thể Lewy”.)

Cố định vật lý hiếm khi được chỉ định trong chăm sóc bệnh nhân sa sút trí tuệ và chỉ nên áp dụng cho những bệnh nhân có nguy cơ gây tổn thương vật lý tức thời cho chính họ hoặc người khác. (Xem mục ‘Sử dụng cố định vật lý’ ở dưới.)

Thờ ơ/Vô cảm – Thờ ơ là một triệu chứng phổ biến và khó điều trị trong sa sút trí tuệ, có thể xuất hiện cùng hoặc không cùng với trầm cảm đồng mắc. Các chiến lược điều trị bao gồm sử dụng thuốc ức chế cholinesterase, thử nghiệm điều trị bằng thuốc chống trầm cảm và dùng methylphenidate liều thấp. (Xem mục ‘Thờ ơ’ ở dưới.)

Rối loạn giấc ngủ – Rối loạn giấc ngủ thường gặp ở bệnh nhân sa sút trí tuệ. Các chiến lược phi dược lý, bao gồm duy trì vệ sinh giấc ngủ tốt, tối đa hóa tiếp xúc với ánh sáng tự nhiên vào buổi sáng và tập thể dục hàng ngày, thường được ưu tiên hơn so với điều trị bằng thuốc. (Xem mục “Rối loạn chu kỳ thức-ngủ và rối loạn giấc ngủ ở bệnh nhân sa sút trí tuệ”.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here