Chỉ định đánh giá dinh dưỡng ở trẻ em

TÓM TẮT

Phân loại rối loạn dinh dưỡng – Suy dinh dưỡng ở trẻ em có thể biểu hiện dưới ba dạng: thiếu dinh dưỡng, thừa dinh dưỡng và mất an ninh lương thực. Mỗi tình trạng này đều có thể gây ra những tác động ngắn hạn và dài hạn đối với sự tăng trưởng, tỉ lệ bệnh tật và tỉ lệ tử vong. Việc xác định những trẻ đang gặp vấn đề hoặc có nguy cơ rối loạn dinh dưỡng là một phần quan trọng trong chăm sóc y tế dự phòng. (Xem thêm mục ‘Dịch tễ học của các rối loạn dinh dưỡng’ ở dưới.)

Kiểu tăng trưởng bình thường – Việc theo dõi định kỳ cân nặng và chiều cao là phương pháp sàng lọc hiệu quả cho các vấn đề dinh dưỡng khi so sánh với tốc độ tăng trưởng kỳ vọng ở trẻ khỏe mạnh. Tốc độ tăng trưởng nhanh nhất ở trẻ khỏe mạnh xảy ra trong giai đoạn sơ sinh và tuổi dậy thì (bảng 2). (Xem thêm mục ‘Kiểu tăng trưởng bình thường’ ở dưới.)

Thiếu dinh dưỡng – Suy dinh dưỡng cấp tính thường đi kèm với sự sụt giảm khối lượng mỡ và khối lượng cơ; tác động lên thành phần cơ thể ở trẻ nhũ nhi khác với trẻ lớn hơn. Khi trẻ nhũ nhi suy dinh dưỡng, cân nặng giảm, lượng mỡ cơ thể tuyệt đối giảm và tỷ lệ mỡ so với trọng lượng cơ thể giảm mạnh. Ở trẻ lớn mắc bệnh mạn tính, khối lượng nạc tuyệt đối thường giảm nhiều hơn so với khối lượng mỡ. (Xem thêm mục ‘Ảnh hưởng của suy dinh dưỡng đối với thành phần cơ thể’ ở dưới.)

Các kiểu tăng trưởng sau đây là dấu hiệu cảnh báo tình trạng thiếu dinh dưỡng. Nhìn chung, sự thiếu hụt về tăng cân hoặc chỉ số khối cơ thể (BMI) gợi ý suy dinh dưỡng cấp tính, trong khi sự thiếu hụt về chiều cao hoặc vận tốc tăng trưởng chiều cao gợi ý suy dinh dưỡng mạn tính. Tuy nhiên, tình trạng cân nặng theo tuổi thấp nhưng bách phân vị cân nặng theo chiều cao hoặc BMI vẫn bình thường thường không phải do thiếu dinh dưỡng. (Xem thêm mục ‘Ngưỡng đánh giá chi tiết’ ở dưới.)

  • Chỉ số gầy còm (Wasting):
    • Trẻ <2 tuổi: Cân nặng theo chiều dài < bách phân vị thứ 15 (hoặc Z-score cân nặng theo chiều dài <-1).
    • Trẻ ≥2 tuổi: BMI < bách phân vị thứ 15 (hoặc Z-score BMI <-1), hoặc BMI sụt giảm qua hai hoặc nhiều đường bách phân vị chính trên biểu đồ tăng trưởng.
  • Chỉ số vận tốc tăng cân không đủ:
    • Trẻ tiền dậy thì: Tăng cân <1 kg/năm, hoặc sụt cân ≥5% trọng lượng cơ thể bình thường.
    • Trong giai đoạn tăng trưởng đỉnh dậy thì: Tăng cân <1 kg/6 tháng, hoặc sụt cân ≥5% trọng lượng cơ thể bình thường.
  • Chỉ số tăng trưởng chiều dài/chiều cao không đủ:
    • Mọi lứa tuổi: Chiều cao theo tuổi < bách phân vị thứ 10, hoặc Z-score chiều cao <-1,3.
    • Trẻ từ ≥2 tuổi đến giữa tuổi dậy thì: Vận tốc tăng trưởng chiều cao <5 cm/năm.

Thừa dinh dưỡng – Đánh giá dinh dưỡng cũng được chỉ định cho trẻ thừa cân hoặc béo phì, trẻ có bách phân vị BMI tăng nhanh và trẻ có cha mẹ bị béo phì (bảng 3). Lâm sàng cần theo dõi sự tăng trưởng của trẻ và tư vấn chủ động để khuyến khích chế độ ăn uống lành mạnh và rèn luyện thể thao. (Xem thêm mục ‘Ngưỡng đánh giá chi tiết’ ở dưới.)

Mất an ninh lương thực – Mất an ninh lương thực là tình trạng hạn chế tiếp cận với các loại thực phẩm đủ đa dạng hoặc đủ chất lượng dinh dưỡng do thiếu hụt tài chính và các nguồn lực khác. Đây là yếu tố nguy cơ dẫn đến các rối loạn dinh dưỡng, bao gồm cả béo phì, và có liên quan đến các kết cục sức khỏe bất lợi khác. (Xem thêm mục ‘Mất an ninh lương thực’ ở dưới.)

Các chỉ định đánh giá dinh dưỡng khác – Ngoài những lo ngại do kiểu tăng trưởng bất thường hoặc mất an ninh lương thực, đánh giá dinh dưỡng được chỉ định cho nhiều trẻ nhập viện và trẻ mắc các bệnh lý mạn tính, tùy thuộc vào mức độ khuyết tật và bối cảnh lâm sàng. (Xem thêm mục ‘Các nhóm đối tượng đặc biệt’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here