TÓM TẮT
Sàng lọc – Chúng tôi khuyến nghị sàng lọc tình trạng thừa cân và béo phì ở tất cả bệnh nhân người trưởng thành (Khuyến cáo 2B). Việc này được thực hiện bằng cách đo chỉ số khối cơ thể (BMI) (máy tính 1) trong các lần khám sức khỏe định kỳ. Ngoài ra, đối với những người có BMI từ 25 đến 40 kg/m2, chúng tôi khuyến nghị đo thêm các chỉ số nhân trắc học (ví dụ: vòng eo) (Khuyến cáo 2C), vì tình trạng béo bụng (và các nguy cơ liên quan) có thể không được phản ánh đầy đủ trong khoảng BMI này. Không cần thực hiện các phép đo bổ sung ở bệnh nhân có BMI > 40 kg/m2. (Xem thêm ‘Tiếp cận của chúng tôi’ ở dưới.)
Đo lường tình trạng béo phì
- Chỉ số khối cơ thể (BMI) – Phân loại BMI dựa trên nguy cơ mắc bệnh lý tim chuyển hóa (bảng 1). Phân loại này được sử dụng để xác định những người trưởng thành có nguy cơ cao tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong do béo phì. Tuy nhiên, mối tương quan giữa tỷ lệ mỡ cơ thể và BMI có sự khác biệt giữa các quần thể bệnh nhân. Ở người da trắng, người gốc Tây Ban Nha và người da đen, thừa cân được định nghĩa là BMI từ 25 đến 29,9 kg/m2 và béo phì là BMI ≥ 30 kg/m2. Ở người châu Á, thừa cân được định nghĩa là BMI ≥ 23 đến 24,9 kg/m2 và béo phì là BMI > 25 kg/m2. (Xem thêm ‘Phân loại dựa trên BMI’ ở dưới.)
- Các phép đo nhân trắc học bổ sung – Vòng eo, tỷ lệ eo/hông và tỷ lệ eo/chiều cao là các thông số đo lường tình trạng béo bụng, cung cấp thông tin về nguy cơ độc lập mà BMI không thể hiện hết. Bệnh nhân béo bụng (còn gọi là béo trung tâm, béo nội tạng, béo kiểu android hoặc béo kiểu nam giới) có nguy cơ tăng tỷ lệ tử vong chung, bệnh tim, đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và bệnh gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa. (Xem thêm ‘Các phép đo nhân trắc học bổ sung’ và ‘Vòng eo’ ở dưới.)
Đánh giá
- Đối tượng cần đánh giá – Đối với những cá nhân có BMI ≥ 25 kg/m2 hoặc béo bụng (vòng eo ≥ 35 inch [88 cm] ở nữ hoặc ≥ 40 inch [102 cm] ở nam, tỷ lệ eo/hông ≥ 0,90 ở nam hoặc ≥ 0,85 ở nữ, hoặc tỷ lệ eo/chiều cao > 0,5), chúng tôi khuyến nghị đánh giá thêm để xác định tình trạng nguy cơ tổng thể (hình 4) (Khuyến cáo 2B).
- Các thành phần đánh giá – Quá trình đánh giá bao gồm khai thác tiền sử, khám lâm sàng và đo đường huyết đói (hoặc hemoglobin glycated [A1C]), hormone kích thích tuyến giáp (TSH), men gan và lipid máu đói (hình 4).
- Nguyên nhân tiềm tàng – Nhiều yếu tố góp phần dẫn đến béo phì (bảng 2). Béo phì thường phát sinh từ sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố di truyền và môi trường, bao gồm lối sống ít vận động và tăng lượng calo nạp vào. Mặc dù các nguyên nhân gây béo phì thứ phát không phổ biến, nhưng cần được xem xét và loại trừ, thường thông qua tiền sử và khám lâm sàng. (Xem thêm ‘Tìm hiểu nguyên nhân’ ở dưới.)
- Béo phì tiền lâm sàng so với béo phì lâm sàng – Chúng tôi đánh giá tình trạng sức khỏe hiện tại của bệnh nhân để xác định xem họ có bất kỳ triệu chứng hoặc bệnh lý nào liên quan đến béo phì hay không (ví dụ: đái tháo đường type 2, ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn, suy tim). Những trường hợp này được phân loại là béo phì lâm sàng, trong khi những người không có ảnh hưởng sức khỏe liên quan đến cân nặng được phân loại là béo phì tiền lâm sàng. Chúng tôi cũng đánh giá các yếu tố nguy cơ bổ sung đối với bệnh tật liên quan đến béo phì trong tương lai, bao gồm mức độ thừa cân (BMI), sự hiện diện của béo bụng (vòng eo), các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch khác (ví dụ: hút thuốc hoặc tăng lipid máu) và tiền sử thay đổi cân nặng. (Xem thêm ‘Béo phì tiền lâm sàng so với béo phì lâm sàng’ ở dưới.) Can thiệp tiếp theo sẽ dựa trên đánh giá nguy cơ tổng thể. (Xem thêm ‘Đánh giá bệnh nhân béo phì’ ở dưới.)
Can thiệp
Tất cả những cá nhân có lợi ích từ việc giảm cân cần được tư vấn về chế độ ăn uống, hoạt động thể chất, thay đổi hành vi và mục tiêu giảm cân. Những cá nhân không cần giảm cân có thể được tư vấn về việc phòng ngừa tăng cân. Mối tương quan giữa BMI và nguy cơ cho phép xác định các cấp độ khác nhau để định hướng lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. (Xem thêm ‘Đối tượng chỉ định can thiệp giảm cân’ ở dưới.)
Các khuyến nghị cụ thể về điều trị béo phì được xem xét riêng biệt. (Xem thêm “Béo phì ở người trưởng thành: Tổng quan về quản lý”, “Béo phì ở người trưởng thành: Liệu pháp dinh dưỡng”, “Béo phì ở người trưởng thành: Liệu pháp dùng thuốc” và “Béo phì ở người trưởng thành: Liệu pháp hành vi”.)