TÓM TẮT
Định nghĩa – Gây tê thần kinh thẹn và gây tê cạnh cổ tử cung là các phương pháp gây tê vùng, trong đó thuốc tê được tiêm một lần duy nhất vào vị trí cạnh dây thần kinh hoặc đám rối thần kinh để giảm đau. (Xem ‘Định nghĩa và chỉ định’ ở dưới.)
Gây tê thần kinh thẹn – Phương pháp này thường được chỉ định để giảm đau trong các thủ thuật ngoại khoa nhỏ ở vùng tầng sinh môn hoặc trong các giai đoạn của quá trình chuyển dạ. (Xem ‘Định nghĩa và chỉ định’ ở dưới.)
Dụng cụ và thuốc – Đối với gây tê thần kinh thẹn, tác giả sử dụng Lidocaine 1% không kèm epinephrine (bảng 1). Liều gây độc của Lidocaine (3 mg/kg khi không có epinephrine và 7 mg/kg khi có epinephrine) cần được tính toán trước khi tiêm. (Xem ‘Dụng cụ và thuốc’ ở dưới.)
Tiếp cận và quy trình – Để gây tê thần kinh thẹn, có thể tiếp cận gai ngồi qua đường âm đạo hoặc đường tầng sinh môn (hình 2, hình 3 và hình 1). Đường tiếp cận qua âm đạo hầu như luôn được ưu tiên, ngoại trừ trường hợp bệnh nhân đang chuyển dạ mà đầu thai nhi đã xuống thấp khiến bác sĩ không thể tiếp cận được gai ngồi. (Xem ‘Quy trình thực hiện’ ở dưới.)
Kết quả – Trong vòng 4 đến 5 phút sau khi tiêm, một ca gây tê thành công sẽ cho phép bác sĩ kẹp nhẹ vùng âm đạo dưới và âm hộ sau, ban đầu bằng ngón cái và ngón trỏ, sau đó bằng kẹp Allis mà bệnh nhân không thấy đau. Hiệu quả giảm đau tối đa đạt được sau 10 đến 20 phút. (Xem ‘Kết quả và hiệu quả’ ở dưới.)
Biến chứng – Mặc dù hiếm gặp, các biến chứng có thể bao gồm hình thành khối máu tụ, nhiễm trùng, tổn thương thần kinh, cũng như độc tính của thuốc đối với mẹ và thai nhi. (Xem ‘Biến chứng’ ở dưới.)
Gây tê cạnh cổ tử cung – Phương pháp này chủ yếu được dùng để giảm đau trong các thủ thuật phụ khoa có can thiệp nong hoặc thao tác trên cổ tử cung. Mặc dù gây tê cạnh cổ tử cung có hỗ trợ giảm đau chuyển dạ, nhưng hiện nay phương pháp này không còn được dùng phổ biến cho mục đích giảm đau sản khoa vì đã có những lựa chọn khác an toàn và hiệu quả hơn. (Xem ‘Định nghĩa và chỉ định’ ở dưới.)
Dụng cụ và thuốc – Việc lựa chọn thuốc tê cho gây tê cạnh cổ tử cung có sự khác biệt giữa thủ thuật phụ khoa và sản khoa. Điểm khác biệt chính là đối với bệnh nhân mang thai, các thuốc tê được đệm (buffered agents) được ưu tiên và không sử dụng thuốc co mạch. (Xem ‘Dụng cụ và lựa chọn thuốc tê’ ở dưới.)
Thủ thuật phụ khoa – Đối với bệnh nhân thực hiện thủ thuật phụ khoa, có hai kỹ thuật gây tê cạnh cổ tử cung phổ biến là tiêm thuốc tê vào vị trí nối cổ tử cung – âm đạo theo phương pháp 4 điểm (tại vị trí 2, 4, 8 và 10 giờ) hoặc 2 điểm (chỉ tại vị trí 4 và 8 giờ) (hình 5). Tác giả ưu tiên kỹ thuật 2 điểm vì giúp giảm số lần tiêm gây đau mà vẫn mang lại hiệu quả tương đương với kỹ thuật 4 điểm.
Bất kể số lượng vị trí tiêm, tổng liều thuốc tê từ 10 đến 20 mL (thường là Lidocaine 1% hoặc Chloroprocaine 2%) được tiêm sâu khoảng 10 mm vào mô đệm cổ tử cung tại vị trí nối cổ tử cung – âm đạo. (Xem ‘Thủ thuật phụ khoa’ ở dưới.)
Giảm đau trong sản khoa – Gây tê cạnh cổ tử cung có thể được áp dụng cho một số bệnh nhân chuyển dạ không thể tiếp cận các phương pháp giảm đau vùng hoặc giảm đau toàn thân.
Sử dụng trong giai đoạn chuyển dạ hoạt động – Gây tê cạnh cổ tử cung chỉ được thực hiện trong giai đoạn chuyển dạ hoạt động, khi cổ tử cung mở từ 4 cm đến 8 cm, với khoảng cách giữa các lần tiêm không dưới một giờ (hình 6). Khi cổ tử cung mở trên 8 cm, quy trình này khó thực hiện hơn, hiệu quả kém hơn và tăng nguy cơ gây nhịp tim thai chậm, do đó không được khuyến cáo.
Theo dõi nhịp tim thai chậm – Sau khi hoàn tất tiêm, cho người mẹ nằm nghiêng để tối đa hóa lưu lượng máu tử cung – nhau thai và theo dõi thai nhi trong 3 phút để đánh giá tình trạng nhịp tim thai chậm. Tình trạng nhịp tim thai chậm sau gây tê xảy ra trong khoảng 3% các ca tiêm. (Xem ‘Giai đoạn chuyển dạ hoạt động’ ở dưới.)