TÓM TẮT
Hạ phosphat máu liên kết nhiễm sắc thể X (XLH) – Đây là một rối loạn di truyền trội gây ra bởi nhiều biến thể mất chức năng của gen PHEX, đặc trưng bởi tình trạng thất thoát phosphat qua thận thông qua sự tăng hoạt tính của yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi 23 (FGF23) (hình 1). XLH biểu hiện bằng hạ phosphat máu, chậm phát triển, còi xương hoặc nhuyễn xương; cả nam và nữ đều có thể mắc bệnh. (Xem mục ‘Hạ phosphat máu liên kết nhiễm sắc thể X’ ở dưới.)
Burosumab – Burosumab, một kháng thể đơn dòng kháng FGF23, là lựa chọn điều trị mới và quan trọng cho tất cả bệnh nhân XLH. Việc lựa chọn bệnh nhân điều trị bằng burosumab tùy thuộc vào độ tuổi, triệu chứng và tiền sử điều trị (xem mục ‘Điều trị bằng burosumab’ ở dưới):
- Đối với trẻ em đã điều trị bằng phosphat và calcitriol nhưng đem lại hiệu quả hạn chế và/hoặc có tác dụng phụ nghiêm trọng, chúng tôi khuyến cáo chuyển sang sử dụng burosumab (Khuyến cáo 2B). Trong một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, đa trung tâm, nhãn mở và các nghiên cứu ngắn hạn trên trẻ em mắc XLH, burosumab giúp bình thường hóa nồng độ phosphat huyết thanh, cải thiện tình trạng đau, chức năng vận động, còi xương và tăng trưởng chiều cao.
- Đối với trẻ em mới chẩn đoán XLH, chúng tôi khuyến cáo điều trị bằng burosumab thay vì phosphat và calcitriol (Khuyến cáo 2C). Burosumab có khả năng mang lại hiệu quả cao hơn, trong khi hầu hết trẻ điều trị bằng phosphat và calcitriol vẫn tiếp tục gặp các khiếm khuyết về thể chất và chức năng, cũng như gánh nặng điều trị bao gồm việc thuốc khó uống, cần dùng liều phosphat thường xuyên, theo dõi và điều chỉnh liều liên tục.
- Đối với trẻ em đáp ứng tốt với phosphat và calcitriol, lợi ích của việc chuyển sang burosumab hiện chưa rõ ràng. Tuy nhiên, có thể cân nhắc chuyển sang burosumab nếu bệnh nhân gặp tác dụng phụ hoặc không dung nạp được gánh nặng điều trị của phosphat và calcitriol.
- Đối với người trưởng thành có triệu chứng XLH hoặc có gãy xương, chúng tôi khuyến cáo điều trị bằng burosumab thay vì dùng phosphat và calcitriol hoặc không điều trị (Khuyến cáo 2B). Trong một thử nghiệm ngẫu nhiên, burosumab giúp cải thiện độ cứng khớp, thúc đẩy lành xương gãy cũng như cải thiện các bất thường về sinh hóa. Đối với người trưởng thành hoàn toàn không có triệu chứng, hiện chưa rõ burosumab có mang lại lợi ích lâm sàng đáng kể hay không. (Xem mục ‘Người trưởng thành’ ở dưới.)
Không được dùng burosumab phối hợp với phosphat đường uống và calcitriol hoặc các chất chuyển hóa vitamin D hoạt tính khác (paricalcitol, doxercalciferol, calcifediol hoặc alfacalcidol), và không dùng cho bệnh nhân suy thận nặng.
Phosphat và calcitriol – Trong trường hợp không có burosumab, bệnh nhân XLH có thể được điều trị bằng phosphat và calcitriol, vốn là phương pháp điều trị chuẩn cho XLH trong nhiều thập kỷ. Phosphat được dùng để bù đắp lượng mất qua thận, còn calcitriol cần thiết để tăng hấp thu phosphat và calci tại ruột, đồng thời ngăn ngừa cường cận giáp thứ phát. Liệu pháp này được duy trì ít nhất cho đến hết tuổi dậy thì; việc người trưởng thành có nên tiếp tục điều trị thường quy hay không vẫn còn gây tranh cãi. (Xem mục ‘Điều trị bằng phosphat và calcitriol’ ở dưới.)
Các thể còi xương hạ phosphat máu khác
- Còi xương hạ phosphat máu di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường (ADHR) và di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường (ARHR) đã được ghi nhận ở một số gia đình. Biểu hiện lâm sàng tương tự như XLH nhưng thay đổi tùy theo tuổi khởi phát. (Xem mục ‘Hạ phosphat máu di truyền trội’ ở dưới.)
- Hạ phosphat máu và tăng calci niệu là đặc điểm chính của ba hội chứng: còi xương hạ phosphat máu di truyền kèm tăng calci niệu (HHRH), bệnh Dent và tăng calci niệu vô căn. Các rối loạn này không do dư thừa FGF23 gây ra. (Xem mục ‘Hạ phosphat máu kèm tăng calci niệu’ ở dưới.)
Nhuyễn xương do u (TIO) – Rối loạn này đặc trưng bởi hạ phosphat máu và nhuyễn xương mức độ nặng, kèm theo thất thoát phosphat qua thận và nồng độ calcitriol trong huyết tương thấp bất thường, xuất hiện cùng với một khối u. Nếu sụn tăng trưởng chưa đóng, bệnh nhân có thể xuất hiện còi xương. Các khối u này thường là u lành tính, kích thước nhỏ, có nguồn gốc trung mô và thường xuyên tiết ra FGF23. Đường chuyển hóa và biểu hiện lâm sàng tương tự như XLH (hình 1). Khác với hầu hết các trường hợp XLH, TIO không có tiền sử gia đình và là bệnh mắc phải; ngoài ra, tuổi khởi phát của TIO thường là ở tuổi dậy thì hoặc trưởng thành.
Điều trị TIO bằng cách phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn khối u nguyên nhân, phương pháp này có thể chữa khỏi hoàn toàn. Đối với những bệnh nhân không thể phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn hoặc không xác định được vị trí khối u, chúng tôi khuyến cáo điều trị bằng burosumab thay vì phosphat và calcitriol (Khuyến cáo 2C). Trong các nghiên cứu quan sát nhỏ, điều trị bằng burosumab giúp bình thường hóa phosphat huyết thanh và cải thiện các dấu ấn sinh học về chuyển hóa xương, mô bệnh học xương, giảm đau và cải thiện chức năng vận động. (Xem mục ‘Nhuyễn xương do u’ ở dưới.)