TÓM TẮT
-
Nguyên nhân – Suy giáp mắc phải là bất thường về chức năng tuyến giáp phổ biến nhất ở trẻ em, thường do viêm tuyến giáp tự miễn. Tại Hoa Kỳ, 6% thanh thiếu niên có kháng thể kháng tuyến giáp dương tính và 2% có nồng độ hormone kích thích tuyến giáp (TSH) trong huyết thanh tăng. Các nguyên nhân gây suy giáp khác ở trẻ em được liệt kê trong bảng (bảng 1). (Xem thêm mục ‘Viêm tuyến giáp tự miễn’ ở dưới.)
-
Biểu hiện lâm sàng – Nhiều trẻ suy giáp mắc phải, đặc biệt là những trẻ suy giáp dưới lâm sàng, thường không có triệu chứng. Ở những trường hợp bệnh rõ rệt, các đặc điểm lâm sàng bao gồm tốc độ tăng trưởng chiều cao giảm, thấp còi và/hoặc xuất hiện bướu cổ. Thanh thiếu niên cũng có thể có dấu hiệu chậm dậy thì. (Xem thêm mục ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
-
Đánh giá – Những bệnh nhân có triệu chứng hoặc dấu hiệu khám lâm sàng phù hợp với suy giáp cần được đánh giá thông qua đo nồng độ TSH và thyroxine tự do (T4) trong huyết thanh; kết quả này cần được đối chiếu với giá trị tham chiếu bình thường theo độ tuổi (bảng 2). Nếu không có nguyên nhân nào khác rõ ràng, chúng tôi khuyến cáo xét nghiệm kháng thể kháng peroxidase tuyến giáp (TPOAb) và kháng thể kháng thyroglobulin (TgAb) vì viêm tuyến giáp tự miễn là nguyên nhân phổ biến nhất. (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
-
Chẩn đoán – Nồng độ TSH tăng >10 mU/L kèm theo T4 tự do thấp là tiêu chuẩn chẩn đoán suy giáp nguyên phát rõ rệt. Ở trẻ có mức tăng nhẹ (TSH từ 5 đến 10 mU/L), cần thực hiện lại xét nghiệm trước khi đưa ra quyết định điều trị. Điều này là do nồng độ TSH trở về mức bình thường ở tối đa 70% những bệnh nhân này khi xét nghiệm lại. Hơn nữa, tình trạng tăng TSH nhẹ thường gặp ở trẻ béo phì và không cần thiết phải điều trị thay thế hormone tuyến giáp. (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
-
Điều trị – Bệnh nhân có bằng chứng lâm sàng và cận lâm sàng của suy giáp cần điều trị thay thế bằng levothyroxine. Mục tiêu điều trị là khôi phục sự tăng trưởng, phát triển bình thường và cải thiện các biểu hiện lâm sàng liên quan đến suy giáp. Chúng tôi cũng đề xuất điều trị levothyroxine cho bệnh nhân suy giáp dưới lâm sàng đã được xác nhận qua xét nghiệm lặp lại (Khuyến cáo 2C) nhằm ngăn ngừa các tác động bất lợi đến sự tăng trưởng và phát triển. (Xem thêm mục ‘Chỉ định levothyroxine’ và ‘Liều levothyroxine’ ở dưới.)
-
Theo dõi và điều chỉnh liều – Cần theo dõi các xét nghiệm chức năng tuyến giáp và điều chỉnh liều levothyroxine để duy trì TSH và T4 tự do (hoặc T4) trong khoảng tham chiếu bình thường theo độ tuổi. Khi quá trình tăng trưởng và phát triển dậy thì đã hoàn tất, nếu cần xác định tính chất vĩnh viễn của tình trạng suy giáp, có thể ngừng điều trị levothyroxine và đánh giá lại chức năng tuyến giáp. (Xem thêm mục ‘Theo dõi và điều chỉnh liều’ và ‘Tiến triển’ ở dưới.)
-
Tác dụng không mong muốn – Trẻ suy giáp mạn tính (hoặc nặng) đôi khi gặp các vấn đề tạm thời về kết quả học tập và tăng động khi bắt đầu điều trị. Việc sử dụng liều levothyroxine quá cao trong thời gian dài có thể gây ra dính khớp sọ ở trẻ nhũ nhi và thay đổi hành vi bất lợi ở trẻ lớn hơn. (Xem thêm mục ‘Tác dụng không mong muốn’ ở dưới.)