TÓM TẮT
Tổng quan về chỉ định – Nội soi mật tụy ngược dòng (ERCP) đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán và điều trị nhiều bệnh lý đường mật ở trẻ em, với điều kiện cơ sở y tế có đủ trang thiết bị và chuyên gia có kinh nghiệm thực hiện trên nhóm tuổi này.
ERCP hỗ trợ đánh giá một số thể ứ mật ở trẻ sơ sinh và nhiều nguyên nhân gây tắc mật khác, bao gồm sỏi ống mật chủ (bảng 1). Các can thiệp điều trị có thể thực hiện qua ERCP bao gồm: cắt cơ vòng, tạo hình cơ vòng (nong bóng), lấy sỏi đường mật, nong hẹp, thu thập bệnh phẩm (sinh thiết và chải tế bào học) và đặt stent. (Xem thêm mục ‘Chỉ định’ ở dưới.)
Rối loạn bẩm sinh
Ứ mật ở trẻ sơ sinh và nhũ nhi
Teo đường mật – Trẻ nghi ngờ teo đường mật được đánh giá thông qua một loạt các xét nghiệm hình ảnh, xét nghiệm máu và sinh thiết gan để loại trừ các nguyên nhân gây ứ mật khác. Chụp đường mật là bước cuối cùng trong quy trình chẩn đoán, thường được thực hiện qua da hoặc trong phẫu thuật tại hầu hết các trung tâm. Trong một số trường hợp hiếm gặp, ERCP được thực hiện tại những cơ sở có đủ chuyên môn và thiết bị. Việc không quan sát thấy ống mật chủ gợi ý cao đến chẩn đoán teo đường mật, miễn là kết quả này không do lỗi kỹ thuật (ví dụ: vị trí đặt catheter). (Xem thêm mục ‘Teo đường mật’ ở dưới.)
Các nguyên nhân khác – ERCP thường không cần thiết để chẩn đoán các nguyên nhân gây ứ mật sơ sinh khác như hội chứng Alagille và bệnh Caroli. (Xem thêm mục ‘Hội chứng Alagille’ và ‘Bệnh Caroli và xơ gan di truyền’ ở dưới.)
Nang đường mật – Nang đường mật là những vùng giãn dạng nang, có thể đơn độc hoặc đa ổ dọc theo đường mật. Chẩn đoán có thể thực hiện qua siêu âm bụng hoặc siêu âm nội soi, CT hoặc chụp cộng hưởng từ đường mật tụy (MRCP). ERCP giúp xác nhận chẩn đoán và phân loại thể nang (hình 2) để hỗ trợ lập kế hoạch phẫu thuật. Một số bệnh nhân nang đường mật đồng thời có bất thường vị trí nối tụy mật (APBJ). (Xem thêm mục ‘Nang đường mật’ và ‘Bất thường vị trí nối tụy mật’ ở dưới.)
Rối loạn mắc phải
Sỏi ống mật chủ – Trong số trẻ em và nhũ nhi mắc sỏi ống mật chủ, khoảng một nửa có các yếu tố nguy cơ nền như: bệnh lý tán huyết (ví dụ: bệnh hồng cầu hình liềm), bệnh gan mạn tính (ví dụ: bệnh gan liên quan đến hội chứng ruột ngắn), sau phẫu thuật tim hoặc dị tật đường mật. Đối với trẻ không có triệu chứng nhưng có sỏi ống mật chủ kích thước nhỏ, có thể điều trị bảo tồn vì đa số các sỏi này thường tự thoát ra ngoài. Với những bệnh nhân có triệu chứng ở mọi lứa tuổi, chúng tôi khuyến cáo thực hiện ERCP kết hợp cắt cơ vòng để lấy sỏi, nếu có đủ chuyên gia và dụng cụ phù hợp (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm mục ‘Sỏi ống mật chủ’ ở dưới.)
Việc quản lý sỏi ống mật chủ ở trẻ vị thành niên tương tự như ở người lớn. (Xem “Sỏi ống mật chủ: Biểu hiện lâm sàng, chẩn đoán và điều trị” và “Điều trị nội soi sỏi đường mật”.)
Viêm đường mật xơ hóa – Viêm đường mật xơ hóa nguyên phát (PSC) ở trẻ em thường liên quan đến một bệnh lý nền như bệnh mô bào X (histiocytosis X), tình trạng suy giảm miễn dịch, sarcoma tế bào lưới hoặc thiếu máu hồng cầu hình liềm. Ít nhất 80% trẻ mắc PSC có bệnh viêm ruột (IBD) đi kèm. Chẩn đoán PSC có thể được xác lập thông qua sinh thiết gan, ERCP hoặc MRCP. Những bệnh nhân có hẹp đường mật ưu thế gây triệu chứng là đối tượng chỉ định ERCP điều trị để nong hẹp và giải quyết tắc nghẽn. (Xem thêm mục ‘Viêm đường mật xơ hóa nguyên phát’ ở dưới.)
Sau ghép gan – Biến chứng đường mật thường gặp sau ghép gan, bao gồm hẹp, rò và sỏi đường mật, có thể xuất hiện sớm (trong tuần đầu tiên) hoặc muộn sau ghép. Hầu hết bệnh nhân ban đầu được đánh giá bằng MRCP. ERCP được sử dụng để can thiệp điều trị cho đa số bệnh nhân gặp các biến chứng này. (Xem thêm mục ‘Biến chứng đường mật sau ghép gan’ ở dưới và “Ghép gan ở người lớn: Điều trị nội soi các biến cố bất lợi đường mật”.)
Nhiễm giun đũa – ERCP được chỉ định để giải quyết tắc mật do giun đũa và các ký sinh trùng khác, phối hợp với liệu pháp thuốc tẩy giun để loại bỏ hoàn toàn ký sinh trùng. (Xem thêm mục ‘Nhiễm giun đũa’ ở dưới.)