TÓM TẮT
Biểu hiện lâm sàng – Viêm não gây rối loạn chức năng thần kinh với các triệu chứng và dấu hiệu khởi phát đa dạng. Biểu hiện lâm sàng thay đổi tùy thuộc vào độ tuổi, tình trạng miễn dịch của bệnh nhân, virus gây bệnh và (các) vùng não bị tổn thương. (Xem ‘Đặc điểm lâm sàng’ ở dưới.)
Trẻ sơ sinh và trẻ nhũ nhi – Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhũ nhi, viêm não có thể biểu hiện bằng sốt, co giật, bú kém, quấy khóc hoặc lờ đờ. Tình trạng giảm tưới máu có thể xảy ra ở trẻ nhũ nhi viêm não kèm theo nhiễm trùng virus lan tỏa. Sốt là một dấu hiệu có thể thay đổi tùy trường hợp.
Trẻ lớn và trẻ vị thành niên – Ở trẻ lớn và trẻ vị thành niên, viêm não có thể biểu hiện bằng sốt, các triệu chứng tâm thần, cảm xúc không ổn định, rối loạn vận động, thất điều, co giật, sững sờ, lờ đờ, hôn mê hoặc các thay đổi thần kinh khu trú.
Đánh giá – Việc đánh giá trẻ nghi ngờ viêm não bắt đầu bằng việc thăm khám đường thở, hô hấp và tuần hoàn. Ưu tiên hàng đầu là ổn định tình trạng tim mạch-hô hấp và kiểm soát co giật (bảng 2). (Xem “Đánh giá ban đầu và ổn định trẻ suy hô hấp hoặc tuần hoàn” và “Xử trí trạng thái động kinh co giật ở trẻ em”, phần ‘Điều trị chống co giật cấp cứu’.)
Sau khi trẻ đã ổn định, quy trình đánh giá bao gồm:
- Hỏi tiền sử và khám lâm sàng (bảng 5, bảng 6 và bảng 7) (xem ‘Tiền sử’ và ‘Khám lâm sàng’ ở dưới)
- Các xét nghiệm cận lâm sàng ban đầu (bảng 9) (xem ‘Đánh giá xét nghiệm’ ở dưới)
- Chẩn đoán hình ảnh thần kinh (cộng hưởng từ [MRI] là phương pháp lựa chọn hàng đầu) (xem ‘Chẩn đoán hình ảnh thần kinh’ ở dưới)
- Điện não đồ (EEG) (xem ‘Điện não đồ’ ở dưới)
Mục tiêu của việc đánh giá là xác định hội chứng lâm sàng (ví dụ: viêm não cấp tính, viêm não sau nhiễm trùng, viêm não tự miễn, viêm màng não, bệnh não do độc chất hoặc chuyển hóa, v.v.) và xác định nguyên nhân cụ thể (bảng 3 và bảng 4). Đặc biệt quan trọng là phải cân nhắc các nguyên nhân cần điều trị đặc hiệu. (Xem ‘Tổng quan’ ở dưới.)
Chẩn đoán lâm sàng – Chẩn đoán lâm sàng viêm não có thể được xác lập dựa trên các tiêu chuẩn sau (xem ‘Chẩn đoán’ ở dưới):
- Thay đổi trạng thái tâm thần (ví dụ: giảm hoặc thay đổi mức độ ý thức, lờ đờ, hoặc thay đổi tính cách) kéo dài ≥ 24 giờ mà không tìm thấy nguyên nhân thay thế, cộng với
- ≥ 2 tiêu chuẩn sau cho chẩn đoán “có thể” hoặc ≥ 3 tiêu chuẩn sau cho chẩn đoán “có khả năng cao”:
- Sốt ≥ 38°C (100,4°F) được ghi nhận trong vòng 72 giờ (trước hoặc sau khi) nhập viện
- Co giật toàn thể hoặc cục bộ không hoàn toàn do rối loạn co giật tiền sử
- Xuất hiện mới các dấu hiệu thần kinh khu trú
- Tăng tế bào trong dịch não tủy (CSF) (≥ 5 bạch cầu/μL)
- Hình ảnh bất thường nhu mô não trên chẩn đoán hình ảnh gợi ý viêm não, xuất hiện mới hoặc có khởi phát cấp tính
- Bất thường trên EEG phù hợp với viêm não và không do nguyên nhân khác
Xác định tác nhân gây bệnh – Việc xét nghiệm tìm tác nhân gây bệnh cụ thể được định hướng bởi các dấu hiệu lâm sàng, kết quả xét nghiệm ban đầu và các yếu tố dịch tễ học khác (ví dụ: thời điểm trong năm, khu vực địa lý, tiền sử tiếp xúc). Tác nhân gây bệnh có thể được xác định thông qua xét nghiệm dịch não tủy (ví dụ: phản ứng chuỗi polymerase [PCR] và/hoặc kháng thể immunoglobulin M [IgM] trong dịch não tủy), xét nghiệm huyết thanh học và/hoặc xét nghiệm tại các vị trí giải phẫu khác ngoài hệ thần kinh trung ương (CNS; ví dụ: đường hô hấp, da, phân). Việc xác định được một tác nhân gây bệnh đã biết là nguyên nhân gây viêm não sẽ khẳng định chẩn đoán lâm sàng là viêm não do virus; tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, không tìm thấy nguyên nhân cụ thể. (Xem ‘Xác định tác nhân virus’ ở dưới và “Viêm não virus cấp tính ở trẻ em: Cơ chế bệnh sinh, dịch tễ học và nguyên nhân”, phần ‘Nguyên nhân’.)
Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt với viêm não rất rộng, bao gồm các nhiễm trùng khác (ví dụ: vi khuẩn, mycobacterium, ký sinh trùng, nấm và rickettsia), viêm não sau nhiễm trùng hoặc tự miễn, bệnh não do độc chất-chuyển hóa hoặc các tổn thương nội sọ khác (ví dụ: áp xe, u, xuất huyết) (bảng 4). Các khả năng chẩn đoán được thu hẹp thông qua hỏi tiền sử, khám lâm sàng, đánh giá xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh thần kinh. Viêm não tự miễn là một nguyên nhân không do nhiễm trùng ngày càng được ghi nhận nhiều. (Xem ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới và “Viêm não tự miễn (bao gồm cả hội chứng cận ung thư): Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán”.)