TÓM TẮT
Mục tiêu điều trị dịch – Liệu pháp bù dịch nhằm duy trì thể tích và thành phần bình thường của dịch cơ thể, đồng thời điều chỉnh các bất thường hiện có nếu cần thiết. (Xem thêm phần ‘Giới thiệu’ và ‘Nguyên tắc chung’ ở dưới.)
Bù dịch cấp cứu – Bước đầu tiên trong điều trị giảm thể tích tuần hoàn là khắc phục tình trạng thiếu hụt thể tích nghiêm trọng bằng cách truyền dịch đẳng trương đường tĩnh mạch (IV) tùy theo mức độ giảm thể tích của trẻ. Việc đánh giá lâm sàng tình trạng giảm thể tích dựa trên các dấu hiệu thực thể phản ánh trạng thái thể tích máu động mạch hiệu dụng, bao gồm mạch, huyết áp và độ chun giãn của da (bảng 1). (Xem thêm phần ‘Giai đoạn bù dịch cấp cứu’ và “Đánh giá lâm sàng tình trạng giảm thể tích (mất nước) ở trẻ em”.)
Giảm thể tích tuần hoàn nặng – Đối với trẻ giảm thể tích tuần hoàn nặng (được định nghĩa là thiếu hụt thể tích $\ge 10\%$), nên bắt đầu liệu pháp truyền dịch IV bằng cách truyền nhanh 20 mL/kg nước muối sinh lý đẳng trương. Có thể lặp lại liều bolus tùy thuộc vào kết quả đánh giá liên tục trên trẻ.
Giảm thể tích tuần hoàn trung bình – Đối với trẻ giảm thể tích tuần hoàn trung bình rõ rệt (ví dụ: ước tính thiếu hụt thể tích $>7\%$), đặc biệt là khi trẻ không thể uống được, việc bù dịch khẩn cấp có thể là phù hợp. Trong hầu hết các trường hợp, truyền bolus 10 mL/kg nước muối sinh lý đẳng trương trong 30 đến 60 phút, sau đó đánh giá lại để quyết định tiếp tục truyền bolus IV hay chuyển sang liệu pháp uống.
Tiếp tục bù dịch – Bước thứ hai là hoàn tất việc bù dịch và điện giải, đồng thời bắt đầu thay thế lượng dịch mất tiếp diễn, thông qua liệu pháp bù nước đường uống (ORT) hoặc truyền dịch IV (bảng 2) (công cụ tính 1 và công cụ tính 2).
Liệu pháp bù nước đường uống (ORT) – ORT là lựa chọn điều trị ưu tiên cho trẻ giảm thể tích tuần hoàn từ nhẹ đến trung bình hoặc được dùng trong giai đoạn hai của liệu pháp bù dịch. ORT được thực hiện bằng cách cho trẻ uống từng lượng nhỏ dịch thường xuyên bằng thìa hoặc xi lanh. (Xem thêm phần ‘Liệu pháp bù nước đường uống’ ở dưới.)
Liệu pháp bù dịch IV dựa trên nồng độ natri huyết thanh – Chúng tôi chỉ định bù dịch IV cho những trẻ không thể uống hoặc không dung nạp ORT, những trẻ có người chăm sóc không thể thực hiện ORT, hoặc trẻ có bất thường điện giải nghiêm trọng cần theo dõi sát. Thành phần natri trong dịch truyền và tốc độ điều chỉnh phụ thuộc vào nồng độ natri huyết thanh, được định nghĩa như sau:
- Hạ natri máu – Natri huyết thanh $<130\text{ mEq/L}$ (xem ‘Hạ natri máu’ ở dưới)
- Natri máu bình thường – Natri huyết thanh từ $130\text{ đến }150\text{ mEq/L}$ (xem ‘Natri máu bình thường’ ở dưới)
- Tăng natri máu – Natri huyết thanh $>150\text{ mEq/L}$ (xem ‘Tăng natri máu’ ở dưới)
Việc bù thể tích dựa trên tính toán và thay thế lượng nước và natri bị mất. Thiếu hụt nước được ước tính tốt nhất thông qua mức giảm cân so với cân nặng ban đầu (thường không được biết chính xác). Thiếu hụt natri bằng mức thiếu hụt trên mỗi lít natri huyết thanh ($\text{S}_{\text{Na}}$) nhân với thể tích phân bố của hiệu ứng thẩm thấu của natri, chính là tổng lượng nước cơ thể ($\text{TBW}$) (xem ‘Điều trị theo nồng độ natri huyết thanh’ ở dưới):
$$\text{Thiếu hụt Na} = [\text{TBW(n)} \times 140\text{ mEq/L}] – [\text{TBW(c)} \times \text{S}_{\text{Na}}]$$
Trong đó, $\text{TBW(n)}$ là tổng lượng nước cơ thể bình thường và $\text{TBW(c)}$ là tổng lượng nước cơ thể hiện tại ước tính.
Tổng lượng nước cơ thể ($\text{TBW}$) ở hầu hết trẻ em chiếm khoảng $60\%$ trọng lượng cơ thể. Tuy nhiên, tỷ lệ này cao hơn ở trẻ nhỏ và trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ sinh non nhẹ cân với $\text{TBW}$ chiếm khoảng $80\%$ tổng khối lượng cơ thể (hình 1). $\text{TBW(c)}$ là hiệu số giữa $\text{TBW(n)}$ và lượng dịch mất.
Liệu pháp bù dịch IV bằng dịch đẳng trương – Ngoài ra, dịch đẳng trương có thể được sử dụng cho hầu hết trẻ khỏe mạnh để bù lại lượng dịch mất với liều khởi đầu từ 20 đến 40 mL/kg trong vòng 2 đến 4 giờ. Dịch duy trì bằng nước muối sinh lý đẳng trương được bắt đầu khi bệnh nhân trở về trạng thái thể tích tuần hoàn bình thường (euvolemic). (Xem thêm phần ‘Điều trị dựa trên truyền nước muối sinh lý đẳng trương’ ở dưới.)