Tiểu máu đại thể ở trẻ em: Đánh giá

Soi bàng quang

Soi bàng quang hiếm khi được chỉ định trong trường hợp đái máu ở trẻ em. Thủ thuật này chỉ nên dành cho những trường hợp hiếm gặp như trẻ có khối u bàng quang phát hiện qua siêu âm, các triệu chứng kéo dài gợi ý viêm bàng quang, hoặc những trẻ có bất thường niệu đạo do chấn thương.

Không khuyến cáo thực hiện soi bàng quang trong các trường hợp chảy máu niệu đạo vô căn (chảy máu sau khi tiểu, có hoặc không kèm tiểu khó ở bé trai trước tuổi dậy thì) do nguy cơ hẹp niệu đạo sau thủ thuật 3. Thay vào đó, nên theo dõi trong từ một đến hai năm, sau đó chuyển đến bác sĩ tiết niệu nhi nếu các triệu chứng không tự thuyên giảm.

TÓM TẮT

Xác chẩn – Đái máu đại thể được nghi ngờ khi nước tiểu có màu đỏ hoặc nâu. Tuy nhiên, nước tiểu màu đỏ hoặc nâu có thể do các nguyên nhân khác ngoài máu. Do đó, cần phân biệt đái máu đại thể với các nguyên nhân gây nước tiểu đỏ/nâu khác bằng kết quả dương tính của que thử nước tiểu (dipstick) và soi cặn nước tiểu màu đỏ/nâu (sơ đồ 1). Các nguyên nhân khác bao gồm hemoglobin hoặc myoglobin tự do, sắc tố từ thuốc (ví dụ: phenazopyridine) hoặc thực phẩm (ví dụ: củ dền), hoặc các chất chuyển hóa liên quan đến các tình trạng lâm sàng khác (ví dụ: bệnh porphyria). (Xem “Xét nghiệm nước tiểu trong chẩn đoán bệnh thận”, phần ‘Nước tiểu màu đỏ đến nâu’‘Xác nhận’ ở dưới.)

Nguyên nhân – Nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI), kích ứng lỗ sáo hoặc vùng tầng sinh môn và chấn thương là những nguyên nhân phổ biến nhất gây đái máu đại thể ở trẻ em 1,2. Các nguyên nhân ít gặp hơn bao gồm sỏi thận, bệnh/tình trạng hồng cầu hình liềm, rối loạn đông máu, bệnh lý cầu thận (bao gồm viêm cầu thận sau nhiễm trùng và bệnh thận IgA), các bệnh lý ác tính (ví dụ: u Wilms), và viêm bàng quang xuất huyết do thuốc (ví dụ: cyclophosphamide). (Xem ‘Căn nguyên’ ở dưới.)

Đánh giá

  • Đái máu có triệu chứng – Đa số trẻ em có triệu chứng đái máu đại thể thường có nguyên nhân rõ ràng và dễ nhận biết, nhìn chung được phát hiện qua đánh giá ban đầu bao gồm khai thác bệnh sử chi tiết, khám lâm sàng và xét nghiệm nước tiểu (sơ đồ 2). Các xét nghiệm chuyên sâu tiếp theo sẽ được chỉ định dựa trên các phát hiện lâm sàng của lần đánh giá ban đầu. (Xem ‘Đái máu có triệu chứng’ ở dưới.)
  • Đái máu không triệu chứng – Đánh giá chẩn đoán ở những bệnh nhân không triệu chứng thường nhằm xác định nguyên nhân tiềm ẩn của đái máu, bao gồm: xét nghiệm nước tiểu, cấy nước tiểu, xét nghiệm tìm đái máu ở các thành viên trong gia đình, siêu âm thận và bàng quang, đo nồng độ creatinine huyết thanh, thành phần bổ thể C3 huyết thanh và tỷ lệ canxi/creatinine nước tiểu. (Xem ‘Đái máu không triệu chứng’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here