TÓM TẮT
Dịch tễ học – Tỷ lệ hiện mắc bại não (CP) xấp xỉ 2 đến 3,4 ca trên 1000 trẻ em. Nguy cơ này tăng cao đáng kể ở trẻ sinh non có cân nặng khi sinh thấp (BW). (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Nguyên nhân – Nguyên nhân gây bại não là đa yếu tố (bảng 1). Trong nhiều trường hợp, bại não được cho là do các yếu tố tiền sản. (Xem ‘Các nguyên nhân và yếu tố nguy cơ cụ thể’ ở dưới.)
Sinh non và/hoặc cân nặng khi sinh thấp là những yếu tố nguy cơ tiền sản phổ biến nhất dẫn đến bại não. Bại não xảy ra ở khoảng 5% đến 15% trẻ sinh cực nhẹ (VLBW) sống sót. Ở nhóm đối tượng này, bại não thường liên quan đến nhuyễn trắng quanh não thất (PVL), xuất huyết não thất (IVH) và/hoặc loạn sản phế quản phổi (BPD). (Xem ‘Sinh non’ ở dưới.)
Thiếu oxy và/hoặc thiếu máu chu sinh thường chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ các trường hợp bại não. Những trẻ bại não do sự kiện thiếu oxy – thiếu máu cấp tính trong khi sinh thường có xu hướng biểu hiện thể liệt cứng tứ chi hoặc bại não thể vận động (dyskinetic CP) cao hơn so với các thể bại não khác. (Xem ‘Tổn thương thiếu oxy – thiếu máu chu sinh’ ở dưới.)
Nhiễm trùng tử cung và chấn thương ở mẹ trong thai kỳ là những yếu tố nguy cơ gây bại não. Các nhiễm trùng bẩm sinh liên quan đến bại não bao gồm nhiễm khuẩn, cytomegalovirus, giang mai, virus Zika, virus varicella và toxoplasmosis. (Xem ‘Nhiễm trùng hoặc tổn thương tiền sản’ ở dưới.)
Các nguyên nhân di truyền có thể chiếm tới một phần ba tổng số trường hợp bại não. Nhiều rối loạn di truyền có thể biểu hiện các dấu hiệu của bại não (bảng 4). (Xem ‘Độ nhạy cảm di truyền’ ở dưới.)
Đa thai làm tăng nguy cơ bại não do các rủi ro đi kèm như cân nặng khi sinh thấp, sinh non, dị tật bẩm sinh, dây rốn thắt nút và các kết nối mạch máu bất thường. (Xem ‘Đa thai’ ở dưới.)
Đột quỵ trong giai đoạn chu sinh có thể gây bại não và thường biểu hiện dưới dạng liệt cứng một bên. (Xem ‘Đột quỵ’ ở dưới, ‘Xuất huyết nội sọ’ ở dưới và “Đột quỵ ở trẻ sơ sinh: Phân loại, biểu hiện và chẩn đoán”.)
Các tổn thương não đang phát triển trong giai đoạn nhũ nhi và thời thơ ấu cũng có thể gây bại não, bao gồm đột quỵ, tổn thương do chấn thương hoặc thiếu oxy, nhiễm trùng huyết, vàng nhân não và các nguyên nhân gây bệnh não khác ở trẻ em. (Xem ‘Các nguyên nhân mắc phải sau sinh’ ở dưới.)
Dự phòng – Các biện pháp dự phòng nhằm giảm khả năng xảy ra bại não bao gồm (xem ‘Dự phòng’ ở dưới):
- Biện pháp tiền sản
- Chăm sóc tiền sản định kỳ, bao gồm các biện pháp giảm nguy cơ sinh non (xem “Chăm sóc tiền sản: Đánh giá ban đầu”, “Chăm sóc tiền sản: Tam cá nguyệt thứ hai và thứ ba” và “Sinh non tự phát: Tổng quan về yếu tố nguy cơ và tiên lượng”).
- Việc sử dụng magnesium sulfate tiền sản cho phụ nữ có nguy cơ sinh non được thảo luận trong một phần riêng. (Xem “Tác dụng bảo vệ thần kinh của việc tiếp xúc với magnesium sulfate trong tử cung”.)
- Biện pháp trong khi sinh – Ở trẻ sinh non khỏe mạnh, việc kẹp dây rốn muộn (sau khi sinh ít nhất 30 giây) có thể làm giảm nguy cơ xuất huyết não thất (IVH). Vấn đề này được thảo luận riêng. (Xem “Chuyển dạ và sinh: Quản lý giai đoạn ba bình thường sau sinh ngả âm đạo”, phần ‘Kẹp dây rốn muộn’.)
- Biện pháp sau sinh
- Các biện pháp hỗ trợ bảo vệ thần kinh cho trẻ sơ sinh có nguy cơ tổn thương thần kinh (ví dụ: trẻ sinh non cực nhẹ hoặc trẻ ngạt và/hoặc bệnh não sơ sinh) (xem “Bệnh não sơ sinh: Điều trị và tiên lượng”, phần ‘Quản lý hỗ trợ’).
- Hạ thân nhiệt điều trị cho trẻ ngạt và/hoặc bệnh não sơ sinh (xem “Bệnh não sơ sinh: Điều trị và tiên lượng”, phần ‘Hạ thân nhiệt điều trị’).