Nhiễm khuẩn huyết ở trẻ em: Định nghĩa, biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán

TÓM TẮT

Các định nghĩa – Chúng tôi sử dụng các định nghĩa sau để xác định trẻ nhiễm khuẩn huyết:

Nhiễm trùng – Nhiễm trùng là một quá trình bệnh lý do vi sinh vật gây ra. Tình trạng này được nghi ngờ dựa trên các dấu hiệu thực thể, bao gồm các triệu chứng hoặc dấu hiệu nhiễm trùng khi thăm khám (bảng 1) và sự hiện diện của hội chứng đáp ứng viêm hệ thống ở trẻ em (pSIRS) (bảng 2). Không nhất thiết phải xác nhận có nhiễm trùng mới chẩn đoán được nhiễm khuẩn huyết. (Xem mục ‘Nhiễm trùng’ ở dưới.)

Nhiễm khuẩn huyết tiến triển – Các lâm sàng thường đánh giá trẻ nghi ngờ nhiễm trùng và có các dấu hiệu lâm sàng của rối loạn tưới máu, nhưng chưa đủ nghiêm trọng để đáp ứng Tiêu chuẩn Đồng thuận Quốc tế 2024 về nhiễm khuẩn huyết hoặc sốc nhiễm khuẩn. Chúng tôi định nghĩa những trẻ này là “nhiễm khuẩn huyết tiến triển”. (Xem mục ‘Nhiễm khuẩn huyết tiến triển’ ở dưới.)

Nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn – Các định nghĩa theo Đồng thuận Quốc tế 2024 về nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn dựa trên nghi ngờ nhiễm trùng, cùng với sự hiện diện và mức độ nghiêm trọng của rối loạn chức năng cơ quan; ngưỡng cho bốn hệ cơ quan được bao gồm trong Thang điểm Sepsis Phoenix (xem mục ‘Nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn (Thang điểm Sepsis Phoenix)’ ở dưới):

Định nghĩa về nhiễm khuẩn huyết bao gồm hai thành phần:

  • Nghi ngờ nhiễm trùng
  • Thang điểm Sepsis Phoenix ≥ 2 (bảng 3)

Sốc nhiễm khuẩn được định nghĩa là tình trạng nhiễm khuẩn huyết kèm theo ≥ 1 điểm tim mạch trên Thang điểm Sepsis Phoenix (bất kỳ tiêu chí nào sau đây):

  • Huyết áp thấp theo tiêu chuẩn huyết áp động mạch trung bình theo tuổi
  • Lactate máu > 5 mmol/L
  • Cần sử dụng thuốc vận mạch

Những định nghĩa này không được sử dụng làm tiêu chí sàng lọc cho các công cụ kích hoạt (trigger tools) nhằm xác định trẻ nhiễm khuẩn huyết tiến triển cần được đánh giá lâm sàng và điều trị nhanh. (Xem “Trẻ nhiễm khuẩn huyết tại các cơ sở y tế đầy đủ nguồn lực: Nhận biết nhanh và hồi sức ban đầu (giờ đầu tiên)”.)

Tác nhân gây bệnh – Nhiễm khuẩn do vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng và rickettsia đều có thể gây nhiễm khuẩn huyết. Các vi khuẩn thường gây nhiễm khuẩn huyết nặng bao gồm Staphylococcus aureus, Streptococcus pneumoniae và các vi sinh vật gram âm. Các tác nhân virus có thể biểu hiện giống nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn, đặc biệt là nhiễm virus herpes simplex và enterovirus ở trẻ sơ sinh (≤ 28 ngày tuổi). Tuy nhiên, cần nghi ngờ có đồng nhiễm vi khuẩn, đặc biệt là Staphylococcus aureus, ở những bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết nặng hoặc sốc nhiễm khuẩn. (Xem mục ‘Tác nhân gây bệnh’ ở dưới.)

Biểu hiện lâm sàng – Trẻ nhiễm khuẩn huyết tiến triển có những thay đổi đáng kể về dấu hiệu sinh tồn và số lượng bạch cầu, cho thấy phản ứng viêm hệ thống (bảng 2). Trẻ cũng có các dấu hiệu lâm sàng của sốc với tình trạng tưới máu bất thường (một hoặc nhiều dấu hiệu sau) (xem mục ‘Dấu hiệu sinh tồn và tưới máu mô bất thường’‘Sốc’ ở dưới):

  • Thay đổi trạng thái tâm thần
  • Chi ấm hoặc lạnh
  • Giảm lượng nước tiểu
  • Mạch ngoại vi mạnh hoặc yếu
  • Thời gian đổ đầy mao mạch bất thường (quá nhanh “flash” hoặc > 2 giây)

Các biểu hiện của rối loạn chức năng cơ quan, bao gồm giảm oxy máu, rối loạn chức năng tim mạch, toan chuyển hóa với tăng lactate máu và rối loạn đông máu có thể bắt đầu xuất hiện ở những bệnh nhân này nhưng có thể chưa đáp ứng tiêu chuẩn Phoenix để chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết (bảng 3). Những bệnh nhân này cần can thiệp cấp cứu (sơ đồ 3). (Xem “Trẻ nhiễm khuẩn huyết tại các cơ sở y tế đầy đủ nguồn lực: Nhận biết nhanh và hồi sức ban đầu (giờ đầu tiên)”.)

Các dấu hiệu lâm sàng bổ sung ở trẻ nhũ nhi và trẻ em nhiễm khuẩn huyết có thể chỉ ra vị trí nhiễm trùng nguyên phát (bảng 1) hoặc phát sinh từ rối loạn chức năng cơ quan do tưới máu không đủ. (Xem mục ‘Các dấu hiệu thực thể khác’ ở dưới.)

Cận lâm sàng – Trẻ nhiễm khuẩn huyết tiến triển hoặc đã xác định cần thực hiện các thăm dò sau (xem mục ‘Xét nghiệm cận lâm sàng’‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới):

  • Đo đường huyết nhanh
  • Cấy máu, nước tiểu, các nguồn nhiễm trùng tiềm tàng khác và thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán đặc hiệu cho các tác nhân gây bệnh nếu có chỉ định
  • Đo lactate máu
  • Khí máu động mạch hoặc khí máu tĩnh mạch và đo SpO2
  • Tổng phân tích tế bào máu kèm công thức bạch cầu (bao gồm số lượng tiểu cầu)
  • Điện giải đồ
  • Blood urea nitrogen (BUN) và creatinine huyết thanh
  • Canxi huyết thanh
  • Bilirubin toàn phần và alanine aminotransferase (ALT) huyết thanh
  • Thời gian prothrombin (PT), thời gian thromboplastin một phần hoạt hóa (aPTT), tỷ số bình thường hóa quốc tế (INR)
  • Fibrinogen và D-dimer
  • Xét nghiệm nước tiểu
  • X-quang ngực ở bệnh nhân suy hô hấp; các chẩn đoán hình ảnh khác có thể phù hợp tùy theo biểu hiện lâm sàng

Chẩn đoán – Chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết ở trẻ em yêu cầu nghi ngờ có nhiễm trùng và Thang điểm Sepsis Phoenix ≥ 2 (bảng 3). Việc nhận biết trẻ nhiễm khuẩn huyết tiến triển dựa trên nghi ngờ nhiễm trùng, bao gồm những trẻ có dấu hiệu thực thể của ổ nhiễm trùng (bảng 1), sự hiện diện của pSIRS (bảng 2) và bằng chứng của giảm tưới máu mô. (Xem mục ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)

Chẩn đoán phân biệt – Tất cả trẻ có các dấu hiệu phù hợp với nhiễm khuẩn huyết cần được dùng kháng sinh kịp thời và bắt đầu điều trị theo mục tiêu nhanh chóng trong khi chờ xác định nguyên nhân nhiễm trùng. Tuy nhiên, một số tình trạng bệnh lý có thể có biểu hiện lâm sàng tương tự và sau khi tình trạng lâm sàng ổn định, một nguyên nhân khác ngoài nhiễm khuẩn huyết có thể được làm rõ. (Xem mục ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here