Tiếp cận cấp cứu tăng huyết áp và tăng huyết áp khẩn cấp ở trẻ em

TÓM TẮT

Định nghĩa – Tăng huyết áp ở trẻ em được xác định về mặt thống kê dựa trên phân phối chuẩn của huyết áp (BP) ở trẻ có cân nặng bình thường, được phân tầng theo giới tính, tuổi và chiều cao (hình 1A-B, bảng 1bảng 2). (Xem thêm “Tăng huyết áp ở trẻ em và thanh thiếu niên: Định nghĩa và chẩn đoán”.)

Việc nhận diện tăng huyết áp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhũ nhi cũng dựa trên việc đối chiếu với các tiêu chuẩn. Tuy nhiên, các phép đo huyết áp này được điều chỉnh theo những thông số khác với trẻ trên một tuổi: cân nặng lúc sinh và tuổi sau thụ thai đối với trẻ sơ sinh (bảng 4); tuổi, cùng với cân nặng và chiều dài ở mức độ hạn chế đối với giai đoạn chu sinh cho đến một tuổi (hình 1A-B). (Xem thêm “Đánh giá và chẩn đoán tăng huyết áp ở trẻ nhũ nhi từ một tháng đến một tuổi”, phần ‘Huyết áp bình thường’“Tăng huyết áp sơ sinh: Nguyên nhân, đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán”, phần ‘Huyết áp bình thường’.)

Tăng huyết áp nặng, hay cơn tăng huyết áp, theo truyền thống được chia thành: cấp cứu tăng huyết áp (huyết áp tăng cao nghiêm trọng, cấp tính, kèm triệu chứng và có bằng chứng tổn thương cơ quan đích đe dọa tính mạng [ví dụ: bệnh não do tăng huyết áp, suy tim hoặc bệnh thận]) và khẩn cấp tăng huyết áp (huyết áp tăng cao nghiêm trọng, cấp tính nhưng không kèm triệu chứng đe dọa tính mạng hoặc không có bằng chứng tổn thương cơ quan đích cấp tính). Tuy nhiên, cần vận dụng đánh giá lâm sàng để xác định mức độ nghiêm trọng của tình trạng tăng huyết áp và nguy cơ tổn thương cơ quan đích, từ đó quyết định thời điểm và cường độ can thiệp. (Xem thêm ‘Định nghĩa’ ở dưới.)

Ổn định trong cấp cứu tăng huyết áp – Bệnh nhi cần được chuyển ngay đến cơ sở chăm sóc cấp cứu (ví dụ: khoa cấp cứu) nếu có các triệu chứng nghiêm trọng và chỉ số huyết áp ở mức độ 2 (bảng 3), hoặc huyết áp cao hơn phân vị thứ 95 trên 30 mmHg đối với trẻ dưới 13 tuổi, hoặc >180/120 mmHg ở trẻ vị thành niên (bảng 1bảng 2). Việc xử trí ban đầu cho những bệnh nhân này bao gồm (xem ‘Cấp cứu tăng huyết áp’‘Ổn định ban đầu’ ở dưới):

  • Hỗ trợ đường thở, hô hấp và tuần hoàn (ABC)
  • Xác nhận tình trạng tăng huyết áp đồng thời với quá trình ổn định bệnh nhân
  • Đánh giá sự hiện diện của các dấu hiệu tổn thương cơ quan đích
  • Xác định các tình trạng bệnh lý có thể làm thay đổi phương án xử trí huyết áp

Điều trị ban đầu – Việc điều trị cấp cứu và khẩn cấp tăng huyết áp ở trẻ em được mô tả trong các sơ đồ (sơ đồ 1sơ đồ 2) và được thảo luận chi tiết trong các phần riêng biệt. (Xem “Xử trí ban đầu các tình trạng tăng huyết áp khẩn cấp và cấp cứu ở trẻ em”.)

Đánh giá chuyên sâu – Sau khi ổn định và điều trị ban đầu, các bước đánh giá tiếp theo bao gồm khai thác bệnh sử đầy đủ, khám lâm sàng và thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng để xác định nguyên nhân căn bản (bảng 7bảng 8). (Xem ‘Đánh giá thêm’ ở dưới.)

Nguyên nhân – Nguyên nhân gây cấp cứu và khẩn cấp tăng huyết áp ở trẻ em thay đổi đáng kể theo độ tuổi và phần lớn tương đồng với các nguyên nhân gây tăng huyết áp nói chung (bảng 10bảng 11). (Xem ‘Nguyên nhân của cấp cứu tăng huyết áp’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here