TÓM TẮT
Cơ chế tác dụng – Các chất dễ bay hơi tạo ra cảm giác hưng phấn và say sưa nhanh chóng do khả năng hấp thu nhanh qua mạng lưới mạch máu phổi, đặc tính ưa lipid cho phép phân bố nhanh vào não, và tác động lên chức năng màng neuron tại các thụ thể glutamate hoặc acid gamma-aminobutyric. (Xem thêm ‘Cơ chế tác dụng’ ở dưới.)
Dịch tễ học – Các chất hít phổ biến nhất bao gồm keo dán, xi đánh giày hoặc toluene; xăng hoặc dung dịch bật lửa; nitrous oxide ($ ext{N}_2 ext{O}$) hay “whippets”; và sơn xịt. Mỗi chất này có thể chứa nhiều hơn một hợp chất độc hại (bảng 1). Các phương thức sử dụng thường gặp bao gồm hít trực tiếp (sniffing), hít mạnh (huffing), hoặc dùng túi nilon (bagging) để làm đậm đặc chất hít. (Xem thêm ‘Dịch tễ học’ và ‘Kỹ thuật (hít trực tiếp, hít mạnh hoặc dùng túi nilon)’ ở dưới.)
Nhận biết lạm dụng chất hít – Việc lạm dụng chất hít thường khó phát hiện. Các dấu hiệu gợi ý bao gồm mùi hóa chất trong hơi thở, trên da hoặc quần áo; sự xuất hiện của các bình đựng dung môi rỗng, túi nilon, giẻ lau hoặc gạc trong đồ dùng hoặc thùng rác của trẻ. Trẻ cũng có thể có những thay đổi đặc trưng trên da (ví dụ: phát ban ở người hít keo) (bảng 2). (Xem thêm ‘Nhận biết lạm dụng chất hít’ ở dưới.)
Đặc điểm lâm sàng của ngộ độc – Mặc dù đại đa số trẻ lạm dụng chất hít dễ bay hơi không cần hoặc không tìm kiếm sự chăm sóc y tế, nhưng ngộ độc chất hít có tiềm năng gây tử vong. Loạn nhịp tim và rối loạn chức năng hệ thần kinh trung ương (say sưa, kích động, co giật) là những tác dụng độc cấp tính đáng lo ngại nhất, đặc biệt là với các hydrocarbon. Tử vong có thể do ngạt, nghẹt thở, sặc chất nôn, hành vi bất cẩn hoặc nguy hiểm trong môi trường rủi ro, và hội chứng đột tử do hít hydrocarbon (sudden sniffing death). Các biểu hiện khác của độc tính cấp và mãn tính thay đổi tùy theo tác nhân, như được trình bày trong bảng (bảng 3), bao gồm: (xem thêm ‘Độc tính và biểu hiện lâm sàng theo tác nhân’ ở dưới)
- Tăng methemoglobin máu (do nitrit)
- Ngộ độc chì (do xăng pha chì)
- Bệnh đa dây thần kinh, bệnh tủy, thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch và thiếu máu hồng cầu to (do nitrous oxide)
- Yếu cơ, hạ kali máu và toan chuyển hóa (do toluene)
- Ngộ độc carbon monoxide (do methylene chloride)
Cận lâm sàng – Bệnh nhân có thay đổi trạng thái tâm thần cần được đo nhanh đường huyết. Cần thực hiện đo bão hòa oxy (pulse oximetry) và đo điện tâm đồ (ECG). Các xét nghiệm sau có thể được thực hiện khi có chỉ định: sàng lọc ma túy trong nước tiểu, tổng phân tích tế bào máu, điện giải đồ, nitơ urê máu (BUN), creatinine huyết thanh, men gan, xét nghiệm nước tiểu, nồng độ methemoglobin, nồng độ chì trong máu tĩnh mạch và X-quang ngực. Với bệnh nhân có biểu hiện thần kinh và sử dụng nitrous oxide mãn tính, cần định lượng vitamin $ ext{B}_{12}$, homocysteine và acid methylmalonic huyết thanh, chụp MRI cột sống và đo dẫn truyền thần kinh. Việc tiếp xúc với một số hydrocarbon (ví dụ: toluene, trichloroethanol) có thể được xác nhận bằng xét nghiệm chất chuyển hóa trong máu hoặc nước tiểu; tuy nhiên các xét nghiệm này thường không có kết quả nhanh, không làm thay đổi ưu tiên điều trị và thường không được thực hiện trong ngộ độc chất hít cấp tính. (Xem thêm ‘Cận lâm sàng’ ở dưới.)
Xử trí – Xử trí ngộ độc chất hít cấp tính chủ yếu là điều trị hỗ trợ (xem thêm ‘Xử trí’ ở dưới):
- Suy hô hấp hoặc hôn mê – Thở oxy 100% qua mặt nạ không tái thở để điều trị thiếu oxy. Bác sĩ lâm sàng nên tiến hành đặt nội khí quản và thông khí nhân tạo nếu nghi ngờ khả năng tự thở của bệnh nhân không đủ hoặc có nguy cơ sặc phổi cao. (Xem thêm ‘Hôn mê kèm suy hô hấp’ ở dưới.)
-
Loạn nhịp thất – Trẻ có loạn nhịp thất cần được chỉnh điện đồng bộ hoặc khử rung tim theo hướng dẫn hồi sức quốc tế (sơ đồ 1 và sơ đồ 2). (Xem thêm ‘Loạn nhịp thất’ ở dưới và “Kỹ thuật khử rung tim và chỉnh điện ở trẻ em (bao gồm khử rung tim tự động)”.)
Đối với bệnh nhân lạm dụng chất hít cần dùng thuốc điều trị loạn nhịp thất theo phác đồ Hồi sức Cấp cứu Nhi khoa (PALS) (sơ đồ 1 và sơ đồ 2), chúng tôi đề nghị sử dụng amiodarone hoặc lidocaine thay vì epinephrine (Khuyến cáo 2C). Nếu loạn nhịp thất vẫn tồn tại dù đã áp dụng phác đồ PALS, việc sử dụng propranolol hoặc esmolol có thể mang lại lợi ích. (Xem thêm ‘Loạn nhịp thất’ ở dưới.)
- Hạ kali máu và yếu cơ – Bệnh nhân có các triệu chứng này do lạm dụng toluene cần được bù kali đường tĩnh mạch cẩn thận đồng thời theo dõi điện giải, bao gồm canxi và phốt pho. Tránh truyền dextrose. (Xem thêm ‘Hạ kali máu’ ở dưới và “Biểu hiện lâm sàng và điều trị hạ kali máu ở người lớn”, phần ‘Liệu pháp tĩnh mạch’.)
- Tăng methemoglobin máu – Bệnh nhân tăng methemoglobin máu (ví dụ: do tiếp xúc với nitrit) có triệu chứng cần được điều trị bằng oxy liều cao và methylene blue tĩnh mạch. (Xem thêm ‘Thuốc giải độc’ ở dưới và “Tăng methemoglobin máu”, phần ‘Xử trí (do mắc phải/độc tính)’.)
- Ngộ độc chì – Bệnh nhân ngộ độc chì (ví dụ: hít xăng pha chì) có thể cần liệu pháp giải độc bằng chất tạo phức (chelation therapy) tùy theo kết quả nồng độ chì trong máu toàn phần. (Xem thêm ‘Thuốc giải độc’ ở dưới và “Ngộ độc chì ở trẻ em: Xử trí”.)
- Độc tính thần kinh do lạm dụng nitrous oxide ($ ext{N}_2 ext{O}$) – Đối với bệnh nhân có độc tính thần kinh do lạm dụng $ ext{N}_2 ext{O}$, chúng tôi đề nghị điều trị bằng vitamin $ ext{B}_{12}$ (Khuyến cáo 2C). (Xem thêm ‘Thuốc giải độc’ ở dưới.)
Sàng lọc và điều trị rối loạn sử dụng chất – Bệnh nhân có dấu hiệu lạm dụng chất hít cần được sàng lọc rối loạn sử dụng chất, trầm cảm và nguy cơ tự sát. Quản lý dài hạn bao gồm chuyển gửi điều trị rối loạn sử dụng chất và thực hiện giai đoạn cai nghiện chính thức nếu cần. (Xem thêm ‘Chăm sóc tâm thần’ ở dưới.)