Đau bàn chân và cổ chân ở trẻ năng động hoặc thanh thiếu niên chưa trưởng thành về xương: Đánh giá

TÓM TẮT

Đánh giá – Việc khai thác bệnh sử chi tiết và thăm khám lâm sàng kỹ lưỡng có thể giúp thiết lập chẩn đoán sơ bộ cho hầu hết các trường hợp trẻ em hoặc thanh thiếu niên có tình trạng đau hoặc chấn thương vùng bàn chân và cổ chân. (Xem thêm mục ‘Đánh giá’ ở dưới.)

Hỏi bệnh – Các câu hỏi quan trọng khi khai thác bệnh sử đã được cung cấp. Ngoài việc xác định đặc điểm của cơn đau hoặc chấn thương, lâm sàng cần làm rõ cường độ hoạt động hoặc mức độ tập luyện dẫn đến tình trạng này, đồng thời hỏi về loại giày bệnh nhân sử dụng. (Xem thêm mục ‘Hỏi bệnh’ ở dưới.)

Một số loại giày có liên quan điển hình đến các vấn đề cụ thể của bàn chân như sau (xem thêm mục ‘Giày dép’ ở dưới):

  • Giày đinh: Viêm sụn tiếp hợp gót chân (bệnh Sever)
  • Giày mũi nhọn: U dây thần kinh Morton
  • Giày thiếu hỗ trợ vòm trong: Viêm gân cơ chày sau kèm bàn chân bẹt
  • Dép xỏ ngón: Viêm gân duỗi ngón cái
  • Giày trượt băng không vừa vặn: Bệnh lý thần kinh do chèn ép, dập mô hoặc viêm bao hoạt dịch

Khám lâm sàng – Thăm khám lâm sàng cho trẻ em hoặc thanh thiếu niên có khiếu nại về bàn chân bao gồm: quan sát, sờ nắn, đánh giá tầm vận động, thực hiện các nghiệm pháp gây đau và kiểm tra chức năng. (Xem thêm mục ‘Khám lâm sàng’ ở dưới.)

Hạn chế tối đa việc vận động chi và cần đánh giá nhanh tình trạng thần kinh mạch máu nếu có biến dạng rõ rệt. Ở những bệnh nhân có biến dạng, các vết rách da có thể là dấu hiệu của gãy xương hở. (Xem thêm mục ‘Quan sát’ ở dưới.)

Vị trí đau chói nhất khi thăm khám là chỉ số quan trọng để định hướng một số bệnh lý bàn chân và cổ chân như sau (hình 14) (xem thêm mục ‘Sờ nắn’ ở dưới):

  • Mặt lòng bàn chân:
    • Phần trong và ngoài của gót chân: Viêm sụn tiếp hợp gót chân (bệnh Sever)
    • Phần trong và gần của gót chân: Viêm cân gan chân đoạn gần
    • Vòm trong: Viêm cân gan chân
    • Chỗ bám trong ngón cái (khớp bàn ngón I): Bong gân khớp bàn ngón (turf toe)
    • Xương vừng phía trong tại gốc ngón cái (khớp bàn ngón I): Viêm xương vừng
    • Gốc ngón út (xương bàn ngón V; dấu hiệu này cũng gặp trong bong gân hoặc gãy xương): Bệnh Iselin
    • Vùng trước bàn chân giữa xương bàn ngón II-III hoặc III-IV: U dây thần kinh Morton
  • Mặt mu bàn chân và cổ chân:
    • Mắt cá ngoài: Gãy đầu dưới xương mác
    • Dây chằng sên-mác trước (phía trong và xa so với mắt cá ngoài): Bong gân cổ chân ngoài
    • Vùng dây chằng delta (phía trong và xa so với mắt cá trong): Bong gân cổ chân trong
    • Chỏm ngón thứ hai: Hoại tử vô mạch Freiberg
    • Trên xương sên (phần trong và sau của giữa bàn chân) (hình 1): Bệnh Köhler
    • Đau lan tỏa vùng giữa bàn chân: Bàn chân bẹt kèm dính khớp sên-gót (tarsal coalition)
    • Vẹt ngón cái: Phía trong ngón cái (khớp bàn ngón I)
    • Gốc ngoài ngón út (khớp bàn ngón V): Vẹt ngón út (bunionette)
    • Xương bàn ngón II (vị trí phổ biến nhất): Gãy xương do mỏi (stress fracture)

Chẩn đoán hình ảnh – X-quang quy ước bàn chân (các bình diện trước-sau, nghiêng và chếch) được chỉ định cho tất cả bệnh nhân không thể chịu lực hoặc không thể đi được 4 bước sau chấn thương cấp tính và có điểm đau khu trú tại bàn chân. Phương pháp này cũng phù hợp cho bệnh nhân có điểm đau chói tại xương, đặc biệt là gốc xương bàn ngón V, hoặc khi cần đánh giá các xương phụ (ví dụ: xương mác phụ [os peroneum], xương sên phụ [os tibiale externum/os naviculare], hoặc xương tam giác [os trigonum]). (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)

X-quang quy ước cổ chân (các bình diện trước-sau, nghiêng và bình diện mộng – mortise view) được chỉ định cho tất cả bệnh nhân không thể chịu lực hoặc không thể đi bộ 4 bước sau chấn thương cấp tính, bệnh nhân có điểm đau chói tại xương khi thăm khám, hoặc có dấu hiệu của viêm sụn tách rời (ví dụ: đau vùng xương sên hoặc tràn dịch khớp), gãy xương do mỏi, hội chứng xoang khớp sên-mác (sinus tarsi syndrome) và các xương phụ. X-quang quy ước cũng thường được thực hiện để loại trừ tổn thương xương ở những bệnh nhân đang được nghi ngờ tổn thương gân. (Xem thêm mục ‘Chẩn đoán hình ảnh’ ở dưới.)

Các đặc điểm lâm sàng và đánh giá chẩn đoán hình ảnh khuyến cáo cho các bệnh lý cụ thể gây đau bàn chân và cổ chân ở trẻ em và thanh thiếu niên chưa trưởng thành về mặt xương được thảo luận chi tiết hơn trong các bài viết riêng biệt. (Xem “Đau cổ chân ở trẻ em năng động hoặc thanh thiếu niên chưa trưởng thành về mặt xương: Tổng quan về các nguyên nhân”, “Đau gót chân ở trẻ em năng động hoặc thanh thiếu niên chưa trưởng thành về mặt xương: Tổng quan về các nguyên nhân”“Đau trước bàn chân & giữa bàn chân ở trẻ em năng động hoặc thanh thiếu niên chưa trưởng thành về mặt xương: Tổng quan về các nguyên nhân”.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here