TÓM TẮT
Mô tả gãy xương – Việc mô tả một ca gãy xương đòi hỏi sự giải thích chi tiết về cả bệnh cảnh lâm sàng và các dấu hiệu trên hình ảnh X-quang (bảng 1). (Xem thêm phần ‘Mô tả gãy xương ở trẻ em’ ở dưới và “Nguyên tắc chung trong điều trị gãy xương: Sự liền xương và mô tả gãy xương”, mục ‘Mô tả gãy xương’.)
Các tư thế chụp X-quang – Một quy trình đánh giá X-quang chính xác bắt đầu từ việc lựa chọn phương pháp chẩn đoán hình ảnh phù hợp. X-quang quy ước thường là chỉ định đầu tay cho trẻ nghi ngờ gãy xương. Các chuỗi chụp X-quang tiêu chuẩn trong đánh giá gãy xương thường bao gồm hai hoặc ba tư thế và thay đổi tùy theo vùng giải phẫu cần khảo sát (bảng 2). (Xem thêm ‘Các tư thế chụp X-quang quy ước’ ở dưới.)
Đặc điểm gãy xương ở trẻ em – Trẻ em có các kiểu gãy xương đặc thù do xương có độ nén tương đối cao, màng xương có độ bền sợi tăng và sự hiện diện của sụn tăng trưởng. Các ví dụ điển hình bao gồm gãy dạng lún (buckle fracture) (hình 1), gãy cành tươi (greenstick fracture) (hình 6) và biến dạng dẻo (hoặc gãy dạng uốn cong) (hình 4). (Xem thêm ‘Các kiểu gãy xương’ ở dưới.)
Các lâm sàng viên cần lưu ý một số kiểu gãy xương liên quan đến ngược đãi trẻ em, đặc biệt khi có các dấu hiệu cảnh báo khác trong bệnh sử (bảng 4) hoặc khi thăm khám lâm sàng (bảng 5). (Xem thêm ‘Ngược đãi trẻ em’ ở dưới và “Các khía cạnh chỉnh hình trong ngược đãi trẻ em”, mục ‘Các kiểu gãy xương’.)
Gãy sụn tăng trưởng – Sụn tăng trưởng rất dễ tổn thương, do đó những lực tác động gây chấn thương dây chằng ở người lớn có thể dẫn đến gãy sụn tăng trưởng ở trẻ em. Hệ thống phân loại Salter-Harris hiện là phương pháp được chấp nhận rộng rãi nhất để mô tả gãy sụn tăng trưởng, được chia thành các loại từ I đến V (hình 8). Cần đặc biệt lưu ý các tổn thương sụn tăng trưởng vì chúng có thể dẫn đến ngừng tăng trưởng xương. (Xem thêm ‘Mô tả gãy sụn tăng trưởng’ ở dưới.)
Sau khi sụn tăng trưởng đóng, các kiểu gãy xương sẽ tương tự như ở người lớn. Thời điểm đóng sụn tăng trưởng ở các chi thay đổi tùy theo từng bệnh nhân, tùy loại xương và giới tính (hình 5). (Xem thêm ‘Sụn tăng trưởng’ ở dưới.)
Gãy xương kín đáo – Một số trường hợp gãy xương ở trẻ em có thể không hiển thị rõ trên phim X-quang quy ước ban đầu, thường đòi hỏi chẩn đoán dựa trên các dấu hiệu lâm sàng và hình ảnh theo dõi. Các ví dụ điển hình bao gồm gãy xương chày ở trẻ tập đi (toddler’s fracture – gãy xoắn không di lệch xương chày) (hình 11), gãy Salter-Harris I, gãy trên lồi cầu xương cánh tay Gartland type I (hình 6 và hình 12), và gãy xương do stress (bảng 3). (Xem thêm ‘Các trường hợp gãy xương có thể kín đáo’ ở dưới.)