TÓM TẮT
Phân loại – Bỏng được phân loại theo diện tích (bảng 3 và hình 1) và độ sâu (bảng 1). Bỏng nặng cần chuyển đến trung tâm điều trị bỏng (bảng 2); bỏng trung bình cần nhập viện nhưng không đủ tiêu chuẩn chuyển đến trung tâm bỏng. (Xem mục ‘Phân loại’ ở dưới.)
Chăm sóc tiền viện – Các can thiệp quan trọng bao gồm (xem ‘Chăm sóc tiền viện’ ở dưới):
- Cởi bỏ quần áo và đồ trang sức nếu không dính chặt vào vùng bỏng.
- Rửa sạch ngay lập tức đối với bỏng hóa chất.
- Đối với bệnh nhân bỏng nhẹ đến trung bình, làm mát vùng tổn thương bằng nước lạnh trong 10 đến 20 phút ngay sau khi bỏng; không sử dụng đá lạnh.
- Vận chuyển nhanh chóng nạn nhân đến bệnh viện; thực hiện các biện pháp hồi sức cấp cứu cơ bản khác nếu cần thiết.
Đánh giá – Các dấu hiệu quan trọng trong đánh giá nhanh bao gồm (xem ‘Đánh giá nhanh ban đầu’ ở dưới):
- Đường thở – Có muội than trong miệng, bỏng vùng mặt, khàn tiếng, chảy nước dãi hoặc khó nuốt, gợi ý bỏng đường hô hấp trên.
- Hô hấp – Suy hô hấp do hít phải khói hoặc bỏng vòng quanh ngực/bụng gây cản trở sự giãn nở của phổi.
- Tuần hoàn – Nhịp tim nhanh, thời gian đổ đầy mao cập kéo dài và/hoặc tụt huyết áp khi đánh giá ban đầu, gợi ý có tổn thương do chấn thương phối hợp.
Một số loại bỏng có các nguy cơ đặc thù và cần điều trị bổ sung (xem ‘Tiền sử’ ở dưới):
- Bỏng lửa – Ngộ độc carbon monoxide và cyanide (xem “Ngộ độc carbon monoxide” và “Ngộ độc cyanide”).
- Bỏng hóa chất – Rửa sạch bằng lượng lớn nước (xem “Bỏng hóa chất tại chỗ: Đánh giá và xử trí ban đầu”).
- Bỏng điện cao áp – Loạn nhịp tim, gãy xương, hội chứng chèn ép khoang và tiểu ra myoglobin (bảng 4) (xem “Tổn thương do điện và sét đánh: Đánh giá và xử trí”).
- Bỏng do cố ý – Tiền sử không rõ ràng hoặc phi lý cùng với các hình thái bỏng đặc trưng (như bỏng đối xứng kiểu đi tất (hình 1), bỏng vùng mông hoặc bỏng hình dấu vết/đóng dấu) gợi ý bỏng do cố ý; trường hợp này cần đánh giá các tổn thương khác, báo cáo cho Cơ quan Bảo vệ Trẻ em và sự phối hợp của đội ngũ đa chuyên khoa về ngược đãi trẻ em. (Xem “Ngược đãi thể chất trẻ em: Nhận diện”, phần ‘Bỏng cố ý’.)
Cận lâm sàng – Trẻ em bỏng trung bình hoặc nặng cần thực hiện (xem ‘Cận lâm sàng’ ở dưới):
- Tổng phân tích tế bào máu toàn bộ.
- Điện giải đồ, creatinine và nitơ urê máu (BUN).
- Đối với bệnh nhân nghi ngờ phơi nhiễm carbon monoxide hoặc cyanide: khí máu động mạch hoặc tĩnh mạch, nồng độ carboxyhemoglobin, nồng độ cyanide và lactate máu.
- Chụp X-quang ngực đối với bệnh nhân có suy hô hấp.
- Bệnh nhân có chấn thương phối hợp cần thực hiện thêm các xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh (ví dụ: e-FAST, X-quang sàng lọc và CT) như đã thảo luận riêng (xem “Xử trí chấn thương: Tiếp cận trẻ không ổn định”).
Hồi sức ban đầu – Hồi sức ban đầu cho trẻ bỏng trung bình và nặng bao gồm: kiểm soát đường thở ở trẻ có dấu hiệu bỏng đường hô hấp trên, cung cấp oxy, thông khí, hồi sức dịch và kiểm soát đau bằng opioid tác dụng ngắn (ví dụ: fentanyl tiêm tĩnh mạch hoặc xịt mũi) (sơ đồ 1). (Xem ‘Xử trí’ ở dưới.)
Hồi sức dịch – Đối với trẻ bỏng trung bình hoặc nặng, chúng tôi khuyến cáo sử dụng dịch tinh thể đẳng trương (ví dụ: Ringer lactate) trong 24 giờ đầu sau chấn thương bỏng (Khuyến cáo 2C). Trong giai đoạn hồi sức ban đầu, công thức Parkland (dựa trên cân nặng) có thể dễ áp dụng hơn công thức Galveston (dựa trên diện tích bề mặt). Đối với trẻ <20 kg, khuyến cáo dịch duy trì nên chứa 5% dextrose để phòng ngừa hạ đường huyết (Khuyến cáo 2C). Theo dõi sát đáp ứng với hồi sức dịch (bảng 6). (Xem ‘Ước tính nhu cầu dịch’ và ‘Lựa chọn dịch truyền’ ở dưới.)
Điều trị tăng đường huyết để duy trì nồng độ glucose máu trong khoảng bình thường (ví dụ: 80 đến 110 mg/dL [4,4 đến 6,1 mmol/L]). (Xem ‘Kiểm soát đường huyết’ ở dưới.)
Chăm sóc vết bỏng – Trong khi hồi sức ban đầu, hãy cởi bỏ quần áo nóng, quần áo bị cháy, quần áo dính hóa chất và tất cả đồ trang sức. Đánh giá tổn thương mí mắt hoặc nhãn cầu trước khi tình trạng phù nề mí mắt gây khó khăn cho việc thăm khám mắt. Sau khi bệnh nhân ổn định và kiểm soát được đau, việc chăm sóc vết bỏng bao gồm (xem ‘Xử trí vết bỏng ban đầu’ ở dưới):
- Bỏng nặng – Đối với bệnh nhân được chuyển nhanh đến đơn vị bỏng, che vết bỏng bằng gạc vô khuẩn khô. Không bôi các thuốc tại chỗ. (Xem ‘Băng vết thương’ ở dưới.)
- Bỏng trung bình – Làm sạch nhẹ nhàng vết bỏng bằng xà phòng dịu nhẹ và nước. Cắt lọc các tổ chức hoại tử bao gồm cả các nốt phồng rộp đã vỡ bằng gạc vô khuẩn thấm nước muối sinh lý. Mặc dù còn gây tranh cãi, các nốt phồng rộp lớn, những nốt có nguy cơ vỡ hoặc gây đau (không kể kích thước) có thể được chọc vỡ và loại bỏ. (Xem ‘Cắt lọc’ ở dưới.)
- Băng vết bỏng bằng thuốc kháng khuẩn tại chỗ như đã thảo luận riêng. (Xem “Thuốc bôi tại chỗ và băng gạc trong chăm sóc vết bỏng”.)
Uốn ván – Tiêm phòng uốn ván khi cần thiết (bảng 5) cho trẻ có vết bỏng sâu hơn mức bỏng bề mặt.