TÓM TẮT
Biểu hiện lâm sàng – Cần nghi ngờ hạ thân nhiệt ở bất kỳ trẻ nào có tiền sử tiếp xúc kéo dài với môi trường lạnh, tuy nhiên tình trạng này cũng có thể xảy ra trong các trường hợp bệnh nặng hoặc chấn thương, trong quá trình vận chuyển và hồi sức, lạm dụng trẻ em hoặc tiếp xúc với chất độc. Một số nguyên nhân, đặc biệt là lạm dụng trẻ em, có thể không rõ ràng và cần được cân nhắc kỹ để tránh bỏ sót chẩn đoán. (Xem thêm phần ‘Biểu hiện lâm sàng’ và ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)
Các đặc điểm lâm sàng của hạ thân nhiệt thay đổi tùy theo mức độ nhiệt độ (bảng 2). Chẩn đoán hạ thân nhiệt thường bị bỏ sót. Hạ thân nhiệt nặng có thể ít rõ ràng hơn so với hạ thân nhiệt nhẹ hoặc trung bình. (Xem thêm phần ‘Biểu hiện lâm sàng’ và ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
Một trẻ hạ thân nhiệt nặng dù biểu hiện như đã tử vong vẫn có khả năng sống sót cao nếu được hồi sức đúng cách. (Xem thêm phần ‘Biểu hiện lâm sàng’ và ‘Những lưu ý ở trẻ em’ ở dưới.)
Chẩn đoán – Hạ thân nhiệt được định nghĩa và chẩn đoán khi nhiệt độ trung tâm cơ thể dưới 35°C (95°F) (xem thêm phần ‘Định nghĩa hạ thân nhiệt’ và ‘Chẩn đoán’ ở dưới):
- Nhẹ – Nhiệt độ trung tâm từ 32 đến 35°C (90 đến 95°F)
- Trung bình – Nhiệt độ trung tâm từ 28 đến 32°C (82 đến 90°F)
- Nặng – Nhiệt độ trung tâm dưới 28°C (82°F)
Việc đo chính xác nhiệt độ trung tâm cơ thể đòi hỏi sử dụng nhiệt kế có khả năng đo dải nhiệt độ thấp và tốt nhất là dùng đầu dò nhiệt linh hoạt. Các vị trí đo bao gồm bàng quang, trực tràng, thực quản, vòm họng và tĩnh mạch trung tâm. Các lưu ý quan trọng bao gồm (xem thêm phần ‘Chẩn đoán’ ở dưới):
- Nhiệt độ trực tràng, mặc dù phổ biến, nhưng dễ bị sai số và có thể chậm hơn nhiều so với những thay đổi của nhiệt độ trung tâm thực tế. Nếu sử dụng, chúng tôi ưu tiên đo bằng đầu dò linh hoạt, đưa nhẹ nhàng vào đủ sâu để vượt qua các khối phân lạnh trong trực tràng. Khi bắt buộc phải dùng nhiệt kế trực tràng cứng, cần đưa vào ít nhất 10 cm (4 inches) và giữ nguyên trong vài phút.
- Do khả năng xảy ra sai số khi làm ấm lại và độ trễ về thời gian, việc đo tại hai vị trí trung tâm (ví dụ: thực quản và bàng quang) được ưu tiên trong các trường hợp nguy kịch.
Cận lâm sàng – Mọi trường hợp hạ thân nhiệt trung bình hoặc nặng, cũng như hạ thân nhiệt nhẹ không rõ nguyên nhân hoặc kháng trị, cần được thực hiện các xét nghiệm chọn lọc và đo điện tâm đồ (ECG) như đã mô tả ở trên. (Xem thêm phần ‘Xét nghiệm cận lâm sàng’ và ‘Điện tâm đồ’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt và các tình trạng liên quan – Hạ thân nhiệt do các bệnh lý thường biểu hiện ở mức độ nhẹ (nhiệt độ trung tâm 32 đến 35°C [90 đến 95°F]) và có thể xảy ra mà không cần tiếp xúc với môi trường lạnh, tuy nhiên bệnh nhân mắc các bệnh lý này cũng có thể hạ thân nhiệt nặng hơn khi có yếu tố tiếp xúc. Các bệnh lý liên quan đến hạ thân nhiệt bao gồm (xem thêm phần ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới):
- Nhiễm khuẩn huyết (đặc biệt ở trẻ sơ sinh hoặc nhũ nhi)
- Bỏng
- Tổn thương vùng dưới đồi (ví dụ: chấn thương sọ não, bất thường bẩm sinh hệ thần kinh trung ương)
- Quá liều thuốc
- Hạ natri máu
- Suy tuyến thượng thận
- Chán ăn tâm thần
- Suy dinh dưỡng