TÓM TẮT
Định nghĩa – U tuyến yên phát hiện tình cờ (pituitary incidentaloma) là một khối u vùng hố yên không được nghi ngờ trước đó, được phát hiện thông qua chẩn đoán hình ảnh khi thăm khám vì các lý do khác, không liên quan đến các triệu chứng hoặc bệnh lý tuyến yên.
Dịch tễ học – U tuyến yên phát hiện tình cờ khá phổ biến. Trong các nghiên cứu hình ảnh, tỷ lệ phát hiện tình cờ các tổn thương tuyến yên là 4% đến 20% trên chụp cắt lớp vi tính (CT) và 10% đến 38% trên chụp cộng hưởng từ (MRI). Trong các nghiên cứu tử thiết, tỷ lệ u tuyến yên không được phát hiện trước đó là khoảng 10%. (Xem ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Những bệnh nhân được chuyển đến để đánh giá các bất thường vùng hố yên phát hiện tình cờ trên MRI thường có tổn thương kích thước lớn hơn và tỷ lệ bất thường thần kinh cao hơn so với kết quả từ tử thiết hoặc các loạt MRI trên nhóm bệnh nhân không chọn lọc. Điều này có thể là do quá trình chọn lọc của nhóm bệnh nhân được chuyển tuyến. (Xem ‘Kích thước’ ở dưới.)
Tiến triển tự nhiên – Các khối u vùng hố yên phát hiện tình cờ có đường kính >10 mm có xu hướng phát triển nhanh hơn so với những khối u <10 mm. (Xem ‘Tiến triển tự nhiên’ ở dưới.)
Đánh giá và Xử trí
U tuyến yên phát hiện tình cờ ≥10 mm:
- Chúng tôi tiến hành đánh giá tình trạng tăng hoặc giảm tiết hormone (suy tuyến yên). (Xem “Nguyên nhân, biểu hiện và đánh giá khối u vùng hố yên”, phần ‘Đánh giá hormone’ và “Xét nghiệm chẩn đoán suy tuyến yên”.)
- Đối với những bệnh nhân có u tuyến yên tiết gonadotroph hoặc các tổn thương không chức năng lâm sàng khác gây suy giảm thị lực hoặc các triệu chứng thần kinh, chúng tôi chỉ định phẫu thuật xuyên xương bướm làm liệu pháp điều trị ban đầu. Vấn đề này được xem xét chi tiết trong một bài viết riêng. (Xem “Điều trị u tuyến yên tiết gonadotroph và các u tuyến yên không chức năng lâm sàng khác”, phần ‘Liệu pháp ban đầu: Phẫu thuật xuyên xương bướm’.)
- Đối với những bệnh nhân có tổn thương tuyến yên ≥10 mm kèm theo các triệu chứng liên quan đến tình trạng tăng tiết hormone có ý nghĩa lâm sàng (tăng prolactin máu, hội chứng Cushing, bệnh to đầu chi), phương pháp điều trị được mô tả chi tiết trong các bài viết riêng. (Xem “Xử trí tăng prolactin máu”, “Điều trị bệnh to đầu chi” và “Liệu pháp điều trị ban đầu bệnh Cushing: Phẫu thuật xuyên xương bướm và xạ trị tuyến yên”.)
- Đối với những bệnh nhân có tổn thương tuyến yên >10 mm và <20 mm nhưng không có triệu chứng thần kinh hay tăng tiết hormone, phương pháp theo dõi là một hướng tiếp cận hợp lý. Chúng tôi theo dõi bằng cách xét nghiệm hormone (cả tăng và giảm tiết), kiểm tra thị lực và chụp MRI tuyến yên vào tháng thứ 6 và thứ 12 trong năm đầu tiên. (Xem ‘Tổn thương ≥10 mm’ ở dưới và “Điều trị u tuyến yên tiết gonadotroph và các u tuyến yên không chức năng lâm sàng khác”, phần ‘U tuyến yên không triệu chứng’.)
- Đối với những bệnh nhân có tổn thương tuyến yên ≥20 mm kèm suy giảm thị lực hoặc các triệu chứng thần kinh khác, có chỉ định điều trị để giảm kích thước khối u. Tuy nhiên, nếu không có triệu chứng thần kinh, bệnh nhân cao tuổi và/hoặc có nguy cơ phẫu thuật cao, chúng tôi lựa chọn phương pháp theo dõi. (Xem ‘Tổn thương ≥10 mm’ ở dưới.)
Đối với u tuyến yên phát hiện tình cờ <10 mm:
- Chúng tôi chỉ định đo prolactin huyết thanh nếu không có nghi ngờ lâm sàng về tình trạng tăng tiết hormone.
- Đối với những bệnh nhân có tổn thương đường kính từ 2 đến ≤4 mm, chúng tôi không thực hiện thêm các xét nghiệm hình ảnh.
- Đối với những bệnh nhân có tổn thương đường kính từ >4 mm đến 9 mm, chúng tôi thực hiện chụp MRI hàng năm trong hai năm; nếu tổn thương ổn định trong giai đoạn này, tần suất theo dõi có thể giảm xuống vài năm một lần, sau đó giãn cách xa hơn. (Xem ‘Tổn thương nhỏ hơn 10 mm’ ở dưới.)