TÓM TẮT
Tổng quan – “Mắt đỏ” là một triệu chứng thường gặp trong thực hành lâm sàng ngoại trú. Một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân cần được chuyển chuyên khoa mắt khẩn cấp để điều trị, nhưng đại đa số các trường hợp có thể được quản lý bởi bác sĩ chăm sóc sức khỏe ban đầu. Viêm kết mạc (do dị ứng hoặc virus) có lẽ là nguyên nhân gây mắt đỏ phổ biến nhất trong cộng đồng.
Đánh giá bệnh nhân – Tiền sử, đo thị lực và thăm khám bằng đèn pin là những yếu tố quan trọng để xác định nguyên nhân và hướng xử trí mắt đỏ (bảng 3). Việc khai thác tiền sử và khám mắt giúp định hướng xem bệnh nhân có cần thăm khám trực tiếp hay cần chuyển tuyến chuyên khoa mắt hay không. Tiền sử cần làm rõ các yếu tố: thị lực có bị ảnh hưởng không; có đau, cảm giác dị vật, sợ ánh sáng, nhìn đôi, hay có tiết dịch không; tiền sử chấn thương hoặc sử dụng kính áp tròng. (Xem mục ‘Xác định đối tượng cần thăm khám trực tiếp’ ở dưới.)
Thị lực mỗi mắt cần được đánh giá cho tất cả bệnh nhân thăm khám trực tiếp bằng bảng Snellen hoặc các phương pháp thay thế. Khám bằng đèn pin cần bao gồm: kích thước và phản xạ đồng tử với ánh sáng, sự hiện diện và tính chất của dịch tiết, kiểu sung huyết, sự hiện diện của đục giác mạc, mủ tiền phòng (hypopyon) hoặc xuất huyết tiền phòng (hyphema). (Xem mục ‘Xác định mức độ nghiêm trọng và chỉ định chuyển tuyến’ ở dưới.)
Nguyên nhân và xử trí – Chẩn đoán phân biệt mắt đỏ bao gồm các tình trạng nghiêm trọng cần can thiệp chuyên khoa mắt (bảng 1) và các tình trạng lành tính có thể được quản lý bởi bác sĩ chăm sóc ban đầu (bảng 2). (Xem mục ‘Nguyên nhân và xử trí’ ở dưới.)
Chỉ định chuyển chuyên khoa mắt khẩn cấp hoặc cấp cứu – Đối với bệnh nhân mắt đỏ, nếu thị lực không ảnh hưởng, đồng tử có phản xạ, không có cảm giác dị vật khách quan hoặc sợ ánh sáng, không có đục giác mạc, xuất huyết tiền phòng hay mủ tiền phòng, thì bác sĩ chăm sóc ban đầu có thể quản lý tình trạng này. Ngoại lệ là trường hợp trầy xước giác mạc đơn thuần, dù có thể kèm đau nhiều hoặc giảm thị lực, nhưng vẫn có thể xử trí tại tuyến cơ sở. (Xem mục ‘Trầy xước giác mạc’ ở dưới.)
Các chỉ định chuyển tuyến cấp cứu (trong ngày) để đánh giá chuyên khoa mắt (bảng 1) bao gồm:
- Giảm thị lực, đục giác mạc hoặc thâm nhiễm giác mạc, đặc biệt ở người đeo kính áp tròng (xem mục ‘Viêm giác mạc do vi khuẩn’ ở dưới)
- Mắt đỏ kèm xuất huyết tiền phòng hoặc mủ tiền phòng (xem mục ‘Xuất huyết tiền phòng’ và ‘Mủ tiền phòng’ ở dưới)
- Mắt đỏ một bên kèm đau đầu, buồn nôn, nôn, hoặc đau mắt dữ dội (xem mục ‘Glocom góc đóng’ ở dưới)
Các chỉ định chuyển tuyến khẩn (trong vòng một đến hai ngày) (bảng 1) bao gồm:
- Mắt đỏ kèm sợ ánh sáng, cảm giác dị vật, hoặc chảy nước mắt; kèm theo tiền sử nhiễm virus hoặc phát ban theo phân bố dây thần kinh sinh ba (xem mục ‘Viêm giác mạc do virus’ ở dưới)
- Đau âm ỉ, nhức nhối kèm theo sợ ánh sáng (xem mục ‘Viêm mống mắt (viêm màng bồ đào trước)’ và ‘Viêm củng mạc’ ở dưới)
Các tình trạng lành tính gây mắt đỏ – Có nhiều tình trạng lành tính có thể gây mắt đỏ. Viêm kết mạc (do dị ứng hoặc virus) có lẽ là nguyên nhân phổ biến nhất trong cộng đồng. (Xem mục ‘Các tình trạng lành tính gây mắt đỏ’ ở dưới.)
Viêm kết mạc đặc trưng bởi tình trạng tiết dịch mắt, sung huyết các mạch máu kết mạc (“injection”) và phù kết mạc với mức độ khác nhau (“chemosis”); trong các trường hợp do virus hoặc dị ứng có thể kèm theo các triệu chứng toàn thân. Những dấu hiệu không điển hình của viêm kết mạc bao gồm: đau đầu hoặc buồn nôn, giảm thị lực, đau nhãn cầu, đồng tử cố định, sợ ánh sáng, giảm vận nhãn, cảm giác dị vật nghiêm trọng khiến bệnh nhân không thể mở mắt tự nhiên, xung huyết rìa (ciliary flush) và đục giác mạc.