Các biến chứng huyết học do sử dụng rượu

TÓM TẮT

Sinh lý bệnh

  • Lạm dụng rượu mạn tính ở người trưởng thành (> 80 g/ngày ở nam và > 60 g/ngày ở nữ) gây ra những tác động điển hình lên hệ huyết học, bao gồm thiếu máu, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, hồng cầu to (ngay cả khi chưa thiếu máu), xuất hiện nguyên hồng cầu hình nhẫn và các bất thường khác trong tủy xương.
  • Cơ chế gây bệnh là đa yếu tố. Hàm lượng cồn trong các loại đồ uống khác nhau được tóm tắt trong hình (hình 1). (Xem thêm phần ‘Cơ chế gây độc của rượu’‘Giảm các dòng tế bào máu’ ở dưới.)

Đánh giá

Việc đánh giá tùy thuộc vào tình trạng giảm dòng tế bào máu cụ thể của bệnh nhân. Tất cả những người sử dụng rượu có một hoặc nhiều dòng tế bào máu giảm cần được khai thác chi tiết lượng rượu tiêu thụ và tiền sử dinh dưỡng.

Khám lâm sàng cần tập trung tìm các dấu hiệu thiếu máu, xuất huyết (ví dụ: xét nghiệm tìm máu ẩn trong phân) và các bằng chứng của tăng áp lực tĩnh mạch cửa hoặc suy gan mất bù (đặc biệt là lách to). (Xem thêm phần ‘Đánh giá lâm sàng’ ở dưới.)

Xét nghiệm cận lâm sàng

Các xét nghiệm nên được thực hiện khi bệnh nhân ở trạng thái cơ bản, ít nhất hai tuần sau một đợt say cấp hoặc uống rượu dồn dập (binge drinking). Nhiều bất thường sẽ tự hồi phục khi ngưng uống rượu.

Đối với những bệnh nhân giảm dòng tế bào máu kéo dài, cần xem xét các xét nghiệm sau:

  • Tổng phân tích tế bào máu (CBC) kèm phân loại bạch cầu và số lượng tiểu cầu.
  • Các chỉ số hồng cầu, đặc biệt là thể tích trung bình hồng cầu (MCV).
  • Số lượng hồng cầu lưới.
  • Phết máu ngoại vi.
  • Sinh hóa máu và xét nghiệm chức năng gan. (Xem thêm phần ‘Xét nghiệm ban đầu (cho tất cả bệnh nhân)’ ở dưới.)

Bệnh nhân có hồng cầu nhỏ hoặc thiếu máu hồng cầu nhỏ cần được đánh giá tình trạng thiếu sắt; tuy nhiên cần lưu ý rằng thalassemia (bao gồm cả người mang gen thalassemia), thiếu máu trong bệnh lý mạn tính/thiếu máu do viêm (ACD/AI) và thiếu máu nguyên hồng cầu hình nhẫn cũng có thể gây ra tình trạng hồng cầu nhỏ. Nếu xác định thiếu sắt, cần tìm nguyên nhân gây thiếu sắt.

Bệnh nhân có hồng cầu to hoặc thiếu máu hồng cầu to cần thực hiện: đếm hồng cầu lưới, định lượng folate và vitamin B12 huyết thanh, xét nghiệm chức năng gan, hormone kích thích tuyến giáp (TSH), xét nghiệm HIV và/hoặc điện di protein huyết thanh (bảng 1). Xét nghiệm virus viêm gan C được chỉ định nếu men gan tăng.

Hội chẩn huyết học được chỉ định trong các trường hợp giảm dòng tế bào máu nặng, có dấu hiệu loạn sản trên phết máu hoặc giảm toàn thể ba dòng tế bào máu không rõ nguyên nhân. (Xem thêm phần ‘Xét nghiệm bất thường hồng cầu’‘Khi nào cần hội chẩn’ ở dưới.)

Các nguyên nhân phổ biến gây giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu bao gồm thiếu folate, vitamin B12, thiếu đồng và cường lách. Có thể cân nhắc đánh giá các nguyên nhân khác nếu cần thiết. Giảm tiểu cầu hiếm khi diễn tiến nặng, nhưng một số bệnh nhân có thể cần can thiệp để nâng số lượng tiểu cầu trước khi thực hiện thủ thuật xâm lấn hoặc để điều trị xuất huyết liên quan đến giảm tiểu cầu. (Xem thêm phần ‘Xét nghiệm các dòng tế bào máu giảm khác’‘Can thiệp trong giảm tiểu cầu nặng hoặc xuất huyết’ ở dưới.)

Xử trí

Phương pháp điều trị chính là ngưng uống rượu hoàn toàn. Quá trình này có thể đòi hỏi nhiều thời gian và nỗ lực, bao gồm tư vấn, các can thiệp tâm lý xã hội và trong một số trường hợp là sử dụng thuốc.

Chế độ ăn đa dạng đóng vai trò quan trọng; cần bổ sung sắt, folate, vitamin B12 và đồng nếu có thiếu hụt. Sự hồi phục thường xảy ra trong vòng hai đến bốn tuần. Tình trạng hồng cầu to có thể mất nhiều tháng để trở về bình thường, và giảm dòng tế bào máu do cường lách có thể không cải thiện. (Xem thêm phần ‘Kiêng rượu’, ‘Bổ sung dưỡng chất’‘Tiên lượng hồi phục’ ở dưới.)

Tăng tiểu cầu phản ứng

Tăng tiểu cầu phản ứng thường gặp sau khi hồi phục từ tình trạng giảm tiểu cầu do rượu, với số lượng tiểu cầu có thể lên tới 600.000 – 900.000/µL. Số lượng tiểu cầu thường trở lại mức bình thường trong vòng 7 đến 10 ngày. Không cần can thiệp hoặc đánh giá thêm trừ khi tình trạng tăng tiểu cầu kéo dài nhiều tuần. (Xem thêm phần ‘Tăng tiểu cầu phản ứng’ ở dưới.)

Quá tải sắt

Quá tải sắt có thể xảy ra trong bệnh gan do bất kỳ nguyên nhân nào. Bệnh gan có thể làm tăng ferritin huyết thanh độc lập với tổng lượng sắt dự trữ trong cơ thể; hầu hết bệnh nhân lạm dụng rượu mạn tính có ferritin tăng cao nhưng không bị quá tải sắt toàn thân. (Xem thêm phần ‘Quá tải sắt’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here