TÓM TẮT
Mặc dù không đặc hiệu cho ung thư vú viêm (IBC), các thụ thể như yếu tố tăng trưởng biểu mô (EGFR), janus kinase/protein truyền tín hiệu và kích hoạt phiên mã 3 (JAK1/2/STAT3) và tunica interna endothelial cell kinase 2 (TIE2) thường có sự rối loạn điều hòa trong IBC, đặc biệt là thể tam âm 44.
Để đánh giá khả năng nhắm vào các biến đổi tín hiệu này mang lại hiệu quả, hiện có một số thử nghiệm lâm sàng đang triển khai với panitumumab 45 và neratinib 46 nhắm vào EGFR, cho phép bệnh nhân IBC tham gia.
Con đường tín hiệu JAK2/STAT3 được kích hoạt bởi interleukin-6 làm thay đổi sự biệt hóa thành đại thực bào trong vi môi trường mô. Ngược lại, các tế bào mô đệm trung mô chịu ảnh hưởng của đại thực bào M2 có thể trung gian gây kháng thuốc và thúc đẩy di căn; cơ chế sinh học này đang được nghiên cứu trong các thử nghiệm với ruxolitinib nhằm điều hòa trục JAK/STAT 47.
Kinase TIE2, thuộc họ thụ thể angiopoietin, có thể tham gia vào quá trình tăng sinh mạch trong IBC. Một thử nghiệm lâm sàng pha 1b/2 với chất ức chế rebastinib đang được tiến hành để nhắm mục tiêu vào TIE2 48.
Ngày càng có nhiều thử nghiệm đa dạng cho phép tuyển chọn bệnh nhân IBC khi các phân tử mục tiêu được chứng minh là đóng vai trò trong đặc điểm kiểu hình và lâm sàng của IBC. Bước đột phá trong việc đưa bệnh nhân IBC vào các thử nghiệm lâm sàng về ung thư vú tiến triển nhanh này phần lớn là nhờ sự vận động quốc tế phối hợp và những nỗ lực học thuật nhằm tăng cường sự hiện diện của bệnh nhân IBC trong các thử nghiệm mới.
TÓM TẮT
Ung thư vú viêm (IBC) là một thể ung thư vú hiếm gặp và tiến triển nhanh, đặc trưng bởi biểu hiện viêm với tình trạng đỏ da và phù nề lan tỏa.
Giải phẫu bệnh – Hình ảnh mô bệnh học điển hình trên sinh thiết da vùng tổn thương là sự xâm nhập của các tế bào u vào mạch bạch huyết ở lớp trung bì, gây ra các thay đổi viêm. (Xem mục ‘Giải phẫu bệnh’ ở dưới.)
Đặc điểm cơ bản – Mặc dù tổn thương mạch bạch huyết trung bì hỗ trợ chẩn đoán ung thư vú viêm, nhưng đây không phải là điều kiện cần cũng như đủ nếu thiếu các dấu hiệu lâm sàng điển hình. (Xem mục ‘Đặc điểm cơ bản’ ở dưới.)
Di truyền phân tử – Các nghiên cứu về cơ sở phân tử của IBC, cũng như các đặc điểm tiến triển nhanh, tăng sinh mạch và xâm lấn mạch mạnh mẽ, tập trung vào các thụ thể nội tiết, sự biểu hiện quá mức của thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu mô và yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu, cùng vai trò đóng góp của gen ức chế u p53, gen gây ung thư RhoC GTPase (một thành viên của họ protein gắn GTP nhỏ Ras), và gen WISP3 cùng sản phẩm protein của nó (một protein liên quan đến protein gắn yếu tố tăng trưởng giống insulin). (Xem mục ‘Di truyền phân tử’ ở dưới.)