TÓM TẮT
Tầm quan trọng của điều trị – Streptococcus nhóm A (GAS), hay Streptococcus pyogenes, là nguyên nhân do vi khuẩn hàng đầu gây viêm họng Amidan ở người lớn và trẻ em trên toàn thế giới. GAS là một trong số ít các nguyên nhân gây viêm họng hoặc viêm họng Amidan có khuyến cáo điều trị bằng kháng sinh (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới).
Mục tiêu của liệu pháp kháng sinh trong điều trị viêm họng do GAS bao gồm: giảm nhẹ triệu chứng, ngăn ngừa biến chứng và hạn chế lây truyền cho người khác (Xem ‘Mục tiêu điều trị’ ở dưới).
Khuyến cáo điều trị
Đối tượng điều trị – Chúng tôi khuyến cáo điều trị kháng sinh cho bất kỳ bệnh nhân nào có triệu chứng viêm họng hoặc viêm họng Amidan và có kết quả xét nghiệm vi sinh dương tính với GAS (ví dụ: xét nghiệm khuếch đại acid nucleic [NAAT], xét nghiệm kháng nguyên nhanh hoặc nuôi cấy) (Khuyến cáo 1A). Thông thường, chúng tôi không điều trị cho những bệnh nhân không có xác nhận vi sinh về tình trạng nhiễm trùng hoặc những người mang vi khuẩn mạn tính (Xem ‘Đối tượng điều trị’ ở dưới).
Điều trị ưu tiên cho người lớn – Đối với hầu hết người lớn, chúng tôi điều trị bằng Penicillin V đường uống liều 500 mg, uống 2 đến 3 lần mỗi ngày trong tổng cộng 10 ngày. Penicillin là lựa chọn điều trị hàng đầu cho viêm họng do GAS nhờ hiệu quả, tính an toàn, phổ kháng khuẩn hẹp và chi phí thấp (bảng 1 và sơ đồ 2). (Xem ‘Điều trị kháng sinh’ ở dưới).
Điều trị ưu tiên cho trẻ em – Đối với hầu hết trẻ em, chúng tôi sử dụng Penicillin V hoặc Amoxicillin đường uống. Ở trẻ nhỏ, Amoxicillin thường được ưu tiên hơn do dạng hỗn dịch có hương vị dễ uống hơn so với Penicillin (bảng 2 và sơ đồ 2). (Xem ‘Điều trị kháng sinh’ ở dưới).
Điều trị cho bệnh nhân có tiền sử sốt thấp khớp cấp – Đối với bệnh nhân có tiền sử sốt thấp khớp cấp không đang điều trị dự phòng bằng kháng sinh, chúng tôi lựa chọn giữa Penicillin V đường uống, Amoxicillin đường uống hoặc một liều duy nhất Penicillin G benzathine tiêm bắp. Việc lựa chọn dựa trên khả năng cung ứng thuốc, chi phí, khả năng tuân thủ điều trị đường uống, cũng như giá trị và nguyện vọng của bệnh nhân (bảng 1, bảng 2 và sơ đồ 2). (Xem ‘Điều trị kháng sinh’ ở dưới).
Lựa chọn thay thế cho bệnh nhân không dung nạp Penicillin – Đối với bệnh nhân dị ứng hoặc không dung nạp Penicillin, các lựa chọn thay thế bao gồm Cephalosporin, Clindamycin và Macrolid. Việc lựa chọn thuốc trong nhóm này dựa trên bản chất của tình trạng dị ứng/không dung nạp thuốc và tỷ lệ kháng kháng sinh tại địa phương (bảng 3, bảng 1, bảng 2 và sơ đồ 2). (Xem ‘Thay thế cho Penicillin’ ở dưới).
Hết triệu chứng và quay trở lại làm việc – Sốt và đau họng thường thuyên giảm trong vòng 1 đến 3 ngày. Hầu hết bệnh nhân có thể quay trở lại làm việc, đến trường hoặc nhà trẻ sau 12 đến 24 giờ điều trị bằng kháng sinh, với điều kiện họ không còn sốt và sức khỏe ổn định. (Xem ‘Hết triệu chứng’ ở dưới).
Thông thường, không cần thực hiện xét nghiệm kiểm tra khỏi bệnh đối với những bệnh nhân không còn triệu chứng khi kết thúc liệu trình kháng sinh, ngoại trừ những trường hợp có tiền sử sốt thấp khớp cấp hoặc trong các tình huống đặc biệt khác. (Xem ‘Chỉ định xét nghiệm kiểm tra khỏi bệnh’ ở dưới).
Xử trí các triệu chứng kéo dài sau một liệu trình kháng sinh – Đối với những bệnh nhân vẫn còn triệu chứng hoặc triệu chứng tái phát sau khi hoàn thành liệu trình kháng sinh, chúng tôi sẽ lặp lại xét nghiệm vi sinh khi các triệu chứng phù hợp với tình trạng nhiễm GAS. Vì tình trạng mang vi khuẩn GAS mạn tính có thể xảy ra sau điều trị kháng sinh, chúng tôi thường tránh xét nghiệm ở những bệnh nhân có triệu chứng phù hợp hơn với viêm họng do virus hoặc các nguyên nhân khác. (Xem ‘Triệu chứng kéo dài hoặc tái phát’ ở dưới).
Đối với những bệnh nhân được xác nhận vi sinh là viêm họng do GAS tái phát hoặc kéo dài, chúng tôi điều trị lặp lại một liệu trình kháng sinh trong 10 ngày (Khuyến cáo 2C) và thường chọn loại kháng sinh có độ bền với beta-lactamase cao hơn thuốc đã dùng ban đầu. Cắt Amidan hiếm khi được chỉ định cho những bệnh nhân này. (Xem ‘Điều trị kháng sinh’ và ‘Cắt Amidan’ ở dưới).
Dự phòng cho bệnh nhân có tiền sử sốt thấp khớp cấp – Dự phòng kháng sinh được chỉ định cho bệnh nhân có tiền sử sốt thấp khớp cấp vì những bệnh nhân này có nguy cơ cao bị tái phát và phát triển bệnh van tim mạn tính. Dự phòng kháng sinh không được khuyến cáo cho những người mang vi khuẩn mạn tính, trừ trường hợp đặc biệt. (Xem ‘Phòng ngừa’ ở dưới).