TÓM TẮT
Mục đích của sinh thiết hạch gác trong ung thư vú – Tình trạng hạch nách vẫn là một trong những yếu tố tiên lượng quan trọng nhất ở phụ nữ ung thư vú giai đoạn sớm. Xét nghiệm mô bệnh học các hạch đã nạo là phương pháp chính xác nhất để đánh giá sự di căn đến các hạch này. Sinh thiết hạch gác (SLNB) hiện là tiêu chuẩn chăm sóc trong phân giai đoạn hạch nách đối với ung thư vú không sờ thấy hạch trên lâm sàng. (Xem thêm “Tổng quan về sinh thiết hạch gác trong ung thư vú” và phần ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Kỹ thuật – Một quy trình SLNB tiêu chuẩn có thể được thực hiện với một hoặc hai chất đánh dấu như phẩm nhuộm xanh, colloid phóng xạ, ICG hoặc SPIO. Ngoài sở thích của phẫu thuật viên, việc sử dụng chất đánh dấu kép có thể được chỉ định trong các trường hợp: phẫu thuật viên chưa có nhiều kinh nghiệm, tiền sử phẫu thuật vú hoặc nách, điều trị hóa trị tân bổ trợ, béo phì, hoặc thất bại trong việc định vị hạch khi chỉ dùng một loại chất đánh dấu. (Xem thêm ‘Kỹ thuật’ và ‘Kỹ thuật đơn so với kỹ thuật kép’ ở dưới.)
Xạ hình hạch bạch huyết – Không bắt buộc phải thực hiện xạ hình hạch bạch huyết thường quy trước khi SLNB. Tuy nhiên, nên thực hiện xạ hình hạch trước phẫu thuật khi cần sinh thiết lại hạch gác ở những bệnh nhân đã từng SLNB hoặc nạo vét hạch nách cùng bên, do khả năng cao xuất hiện tình trạng dẫn lưu hạch bất thường. (Xem thêm ‘Xạ hình hạch bạch huyết’ ở dưới.)
Số lượng hạch gác tối ưu – Việc xác định hạch gác thành công bằng phẩm nhuộm xanh được định nghĩa là tìm thấy bất kỳ hạch nào có màu xanh hoặc hạch không màu xanh nhưng có mạch bạch huyết dẫn vào màu xanh. Đối với SLNB sử dụng chất phóng xạ, “quy tắc 10%” được đề xuất làm hướng dẫn, theo đó phẫu thuật viên sẽ nạo tất cả các hạch có số đếm phóng xạ lớn hơn 10% so với hạch có phóng xạ cao nhất. Trung bình, có 2 đến 3 hạch gác được xác định. Trong khi một số tác giả dừng thủ thuật sau khi lấy 3 hạch gác, những người khác sẽ tiếp tục cho đến khi tất cả các hạch đáp ứng tiêu chuẩn đều được nạo bỏ. (Xem thêm ‘Kỹ thuật’ và ‘Số lượng hạch gác tối ưu’ ở dưới.)
Đánh giá giải phẫu bệnh trong mổ – Đánh giá hạch gác trong mổ không thể phát hiện tất cả các trường hợp hạch dương tính do những hạn chế về mặt lấy mẫu, đồng thời có thể dẫn đến kết quả dương tính giả. Xét nghiệm mô bệnh học cố định (permanent section) là phương pháp đánh giá chính xác nhất. Ngoài ra, những bệnh nhân đáp ứng một số tiêu chuẩn nhất định có thể không cần nạo vét hạch nách (ALND) toàn bộ dù có một hoặc hai hạch gác dương tính. Vì các tiêu chuẩn để chỉ định nạo vét hạch nách toàn bộ vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn, mỗi phẫu thuật viên cần tự quyết định chỉ định nạo vét hạch dựa trên tình huống lâm sàng cụ thể và thực hiện đánh giá hạch gác trong mổ tương ứng. (Xem thêm ‘Đánh giá hạch gác trong mổ’ ở dưới và “Tổng quan về sinh thiết hạch gác trong ung thư vú”, phần ‘Xử trí sau SLNB’.)
Giảm thiểu tỷ lệ âm tính giả – Tỷ lệ âm tính giả là một thước đo quan trọng về độ chính xác của quy trình SLNB và có thể được giảm thiểu thông qua các biện pháp sau:
- Ưu tiên sinh thiết tổn thương vú nguyên phát qua da (sinh thiết lõi, chọc hút kim nhỏ) thay vì sinh thiết mở.
- Sử dụng chất đánh dấu kép.
- Nạo bỏ bất kỳ hạch nào nghi ngờ hoặc có mật độ chắc được phát hiện trong khi mổ.
- Lấy nhiều hơn một hạch gác.
- Kinh nghiệm của phẫu thuật viên cũng là một yếu tố then chốt.