Sa tạng chậu ở nữ giới: Dịch tễ học, yếu tố nguy cơ, biểu hiện lâm sàng và xử trí

Phụ nữ mang thai

Phụ nữ mang thai có thể xuất hiện các triệu chứng mới hoặc tình trạng sa tạng chậu (POP) tiến triển nặng hơn. Những trường hợp này thường được điều trị bảo tồn. Tình trạng sa tạng chậu có thể khởi phát lần đầu trong thai kỳ, tuy nhiên, trong đa số các trường hợp, đây là bệnh lý đã hiện hữu từ trước.

Tại Hoa Kỳ, đây là tình trạng hiếm gặp; tỷ lệ sa cổ tử cung trong thai kỳ ước tính khoảng 1 trường hợp trên 10.000 đến 15.000 ca sinh. Tỷ lệ lưu hành cao hơn và mức độ sa tạng chậu nặng hơn trong thai kỳ đã được báo cáo ở các quốc gia có tỷ lệ sinh cao.

Việc quản lý POP ở phụ nữ mang thai cần được cá thể hóa dựa trên các triệu chứng và biểu hiện lâm sàng. Phương pháp điều trị bảo tồn thường được áp dụng, bao gồm các bài tập cơ sàn chậu hoặc đặt pessary 111,112.

TÓM TẮT

  • Mô tả và tỷ lệ lưu hành – Sa tạng chậu (POP) là tình trạng các tạng chậu sa xuống đến hoặc vượt quá thành âm đạo (hình 1). Các vị trí sa cơ quan sinh dục nữ cụ thể bao gồm vách trước, vách sau và vòm âm đạo. Tỷ lệ lưu hành POP có triệu chứng ước tính dao động từ 3% đến 11% ở phụ nữ.

    (Xem thêm mục ‘Thuật ngữ’ ở dưới.)

    (Xem thêm mục ‘Tỷ lệ lưu hành’ ở dưới.)

  • Yếu tố nguy cơ – Các yếu tố nguy cơ gây POP bao gồm: tăng số lần sinh, tuổi cao, béo phì và tiền sử cắt tử cung. Những phụ nữ táo bón mạn tính, làm những công việc phải nâng vật nặng, hoặc người gốc Hispanic và người da trắng cũng có nguy cơ mắc POP cao hơn. (Xem thêm mục ‘Yếu tố nguy cơ’ ở dưới.)
  • Triệu chứng – Triệu chứng phổ biến nhất của sa tạng chậu là cảm giác nặng/áp lực vùng chậu hoặc có khối mô lồi ra khỏi âm đạo. Bệnh nhân thường mô tả là “cảm thấy có khối lồi” hoặc “cảm giác có thứ gì đó rơi ra khỏi âm đạo”. Người sa tạng chậu thường kèm theo các rối loạn sàn chậu khác, bao gồm các phàn nàn về tiết niệu, tiêu hóa và tình dục như tiểu không tự chủ, táo bón và/hoặc rối loạn chức năng tình dục. (Xem thêm mục ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
  • Điều trị sa tạng chậu có triệu chứng – Những người bị POP có triệu chứng có thể lựa chọn theo dõi (tức là không can thiệp), điều trị bảo tồn hoặc điều trị phẫu thuật. Điều trị thường không được chỉ định cho phụ nữ sa tạng chậu không có triệu chứng. (Xem thêm mục ‘Hướng tiếp cận quản lý’ ở dưới.)
  • Điều trị bảo tồn – Các lựa chọn điều trị bảo tồn bao gồm đặt pessary âm đạo và tập luyện cơ sàn chậu.

    (Xem thêm mục ‘Điều trị bảo tồn’ ở dưới.)

    (Xem thêm “Pessary âm đạo: Chỉ định, thiết bị và hướng dẫn lựa chọn”.)

  • Điều trị phẫu thuật – Đối tượng chỉ định phẫu thuật bao gồm những phụ nữ sa tạng chậu có triệu chứng, những người điều trị bảo tồn thất bại hoặc từ chối điều trị bảo tồn. Có nhiều phương pháp phẫu thuật điều trị sa tạng chậu, bao gồm tiếp cận qua đường âm đạo hoặc đường bụng (mổ mở, phẫu thuật nội soi hoặc phẫu thuật robot), có hoặc không sử dụng vật liệu ghép. Tiên lượng thay đổi tùy theo loại POP và phương pháp phẫu thuật. (Xem thêm mục ‘Điều trị phẫu thuật’ ở dưới.)
  • POP trong thai kỳ – POP có thể khởi phát hoặc tiến triển nặng hơn trong thai kỳ. Những trường hợp có triệu chứng được quản lý bảo tồn bằng cách thử đặt pessary và/hoặc vật lý trị liệu sàn chậu. (Xem thêm mục ‘Phụ nữ mang thai’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

389.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here