TÓM TẮT
Rối loạn van tim ở người cao tuổi – Hẹp van động mạch chủ (AS) và hở van hai lá (MR) là những rối loạn van tim phổ biến nhất ở người cao tuổi. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
-
Hẹp van động mạch chủ
Yếu tố nguy cơ – Các yếu tố nguy cơ liên quan đến hẹp van động mạch chủ do vôi hóa ở người cao tuổi tương tự như các yếu tố nguy cơ của xơ vữa động mạch. (Xem ‘Yếu tố nguy cơ của hẹp van động mạch chủ do thoái hóa vôi hóa’ ở dưới.)
Chẩn đoán AS – Việc chẩn đoán AS ở người cao tuổi có thể phức tạp hơn do tỷ lệ gặp “hẹp van động mạch chủ nặng có chênh áp thấp” cao. Trong những trường hợp này, việc định lượng mức độ vôi hóa van động mạch chủ bằng chụp cắt lớp vi tính (CT) có thể mang lại giá trị chẩn đoán. (Xem ‘Chẩn đoán AS ở người cao tuổi’ ở dưới.)
Can thiệp AS – Đối với những bệnh nhân AS có chỉ định thay van động mạch chủ, các lựa chọn bao gồm phẫu thuật thay van động mạch chủ (SAVR) và thay van động mạch chủ qua ống thông (TAVI). Chỉ định và lựa chọn phương pháp can thiệp được thảo luận chi tiết trong phần riêng. (Xem “Lựa chọn can thiệp cho hẹp van động mạch chủ do vôi hóa mức độ nặng”.)
Vai trò của SAVR – Bệnh nhân cao tuổi mắc AS thường có tình trạng tiền phẫu kém hơn và tỷ lệ tử vong trong phẫu thuật SAVR cao hơn. Tuy nhiên, những bệnh nhân vượt qua giai đoạn chu phẫu thường hồi phục tốt và chất lượng cuộc sống được cải thiện rõ rệt. Khi có chỉ định SAVR, van sinh học thường được ưu tiên hơn van cơ học ở những bệnh nhân cao tuổi có kỳ vọng sống ngắn hơn tuổi thọ dự kiến của van sinh học. (Xem ‘Lựa chọn van động mạch chủ nhân tạo’ ở dưới.)
Vai trò của TAVI – Tuổi cao và kỳ vọng sống ngắn là những đặc điểm ưu tiên lựa chọn TAVI, vì nguy cơ phẫu thuật cao hơn và nhu cầu can thiệp van động mạch chủ trong tương lai (như tháo bỏ van qua ống thông để thực hiện SAVR) ít khả năng xảy ra hơn khi kỳ vọng sống ngắn. (Xem “Lựa chọn can thiệp cho hẹp van động mạch chủ do vôi hóa mức độ nặng”.)
- Hở van động mạch chủ – Nguyên nhân phổ biến nhất gây hở van động mạch chủ mạn tính ở người cao tuổi là giãn động mạch chủ lên do tăng huyết áp hoặc bệnh lý động mạch chủ nguyên phát, xơ cứng van động mạch chủ do vôi hóa, và hiếm gặp hơn là van động mạch chủ hai mảnh. Hở van động mạch chủ cấp tính thường do bóc tách động mạch chủ hoặc viêm nội tâm mạc. (Xem ‘Hở van động mạch chủ’ ở dưới.)
-
Hở van hai lá
Nguyên nhân – Ở người cao tuổi, những nguyên nhân phổ biến nhất gây hở van hai lá mức độ nặng có chỉ định phẫu thuật là bệnh van hai lá nguyên phát và bệnh tim thiếu máu cục bộ. (Xem ‘Nguyên nhân’ ở dưới.)
Xử trí – Phẫu thuật hở van hai lá mạn tính nặng có thể được khuyến cáo cho bệnh nhân trẻ tuổi chưa có triệu chứng, dù có hay không có dấu hiệu sớm của rối loạn chức năng thất trái (LV). Tuy nhiên, đối với bệnh nhân trên 80 tuổi, mặc dù có thể cân nhắc phẫu thuật sớm, nhưng thông thường ưu tiên tiến hành phẫu thuật khi bệnh nhân đã xuất hiện triệu chứng. (Xem “Hở van hai lá nguyên phát mạn tính: Chỉ định can thiệp”.)
-
Hẹp van hai lá
Nguyên nhân – Hẹp van hai lá tương đối ít gặp ở người cao tuổi. Nguyên nhân chủ yếu là do sốt thấp khớp. Hẹp van hai lá do vôi hóa vòng van lồi thỉnh thoảng vẫn gặp. (Xem ‘Hẹp van hai lá’ ở dưới.)
Xử trí – Đối với bệnh nhân hẹp van hai lá có triệu chứng, nong van hai lá bằng bóng qua da là lựa chọn ưu tiên nếu hình thái van thuận lợi. Tuy nhiên, phương pháp này không được chỉ định cho bệnh nhân tắc nghẽn van hai lá do vôi hóa vòng van. Thay van hai lá qua ống thông hiện đang được nghiên cứu cho trường hợp hẹp van hai lá do vôi hóa. (Xem ‘Điều trị’ ở dưới.)
- Bệnh động mạch vành đồng mắc – Bệnh động mạch vành (CAD) rất phổ biến ở bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh lý van tim. Khi có chỉ định can thiệp van ở người cao tuổi, chụp động mạch vành được chỉ định để đánh giá nhu cầu can thiệp động mạch vành qua da hoặc phẫu thuật bắc cầu động mạch vành (CABG) đồng thời. (Xem ‘Xơ vữa động mạch nền’ ở dưới.)