Biến cố thuyên tắc
Một số báo cáo ca lâm sàng riêng lẻ đã mô tả các biến cố thuyên tắc não hoặc hệ thống do thuyên tắc canxi ở bệnh nhân hẹp van động mạch chủ (AS). Đây dường như là một biến chứng hiếm gặp. Trong một nghiên cứu đoàn hệ bao gồm 515 bệnh nhân hẹp van động mạch chủ do vôi hóa, 300 bệnh nhân vôi hóa van động mạch chủ nhưng không hẹp và 562 đối chứng, tỷ lệ đột quỵ sau hai năm không có sự khác biệt (lần lượt là 5%, 8% và 5%) 63.
TÓM TẮT
Biểu hiện lâm sàng
- Triệu chứng
Bệnh nhân hẹp van động mạch chủ thường không có triệu chứng trong một thời gian dài. Mức độ tắc nghẽn dòng ra gây ra triệu chứng rất đa dạng, một phần phụ thuộc vào thể trạng bệnh nhân và mức độ hoạt động thể chất. Do đó, không có giá trị huyết động học cụ thể nào để xác định chính xác thời điểm xuất hiện triệu chứng (bảng 2). (Xem mục ‘Triệu chứng’ ở dưới.)
Các triệu chứng điển hình của hẹp van động mạch chủ (AS) bao gồm suy tim (HF), đau thắt ngực và ngất. Tuy nhiên, các triệu chứng thường gặp nhất ở những bệnh nhân được theo dõi tiến cứu thường không đặc hiệu (ví dụ: giảm khả năng gắng sức, khó thở khi gắng sức và chóng mặt), vì vậy cần thận trọng khi quy kết các triệu chứng này là do AS. Cần can thiệp kịp thời ngay cả khi các triệu chứng nhẹ xuất hiện ở bệnh nhân hẹp van động mạch chủ nặng, do tiên lượng kém khi chỉ điều trị nội khoa (hình 1). (Xem mục ‘Triệu chứng’ và ‘Đột tử do tim’ ở dưới.)
- Dấu hiệu
Các dấu hiệu điển hình của AS là mạch cảnh nhỏ, lên chậm, tiếng thổi tâm thu đạt đỉnh ở giữa hoặc cuối thì tâm thu tại khoang liên sườn phải (video 2 và video 4), và tiếng tim thứ hai đơn độc. Mặc dù thăm khám lâm sàng có thể gợi ý sự hiện diện và mức độ nghiêm trọng của AS, nhưng không có một dấu hiệu đơn lẻ hay sự kết hợp các dấu hiệu nào trên lâm sàng có đủ độ nhạy và độ đặc hiệu cao để loại trừ hẹp van động mạch chủ nặng, đặc biệt là ở những bệnh nhân không triệu chứng. (Xem mục ‘Khám thực thể’ ở dưới.)
- Chẩn đoán
AS thường được chẩn đoán khi thăm khám lâm sàng (bao gồm tiếng thổi tống tâm thu điển hình) gợi ý AS hoặc khi phát hiện AS trên siêu âm tim thực hiện vì các chỉ định khác. Siêu âm tim là xét nghiệm chính trong chẩn đoán và đánh giá AS. (Xem mục ‘Chẩn đoán và đánh giá’ ở dưới.)
Khi mức độ nặng của AS chưa rõ ràng, các xét nghiệm bổ sung có thể bao gồm: nghiệm pháp gắng sức, chụp cắt lớp vi tính (CT) để định lượng vôi hóa van, siêu âm tim qua thực quản để quan sát rõ hơn giải phẫu van, hoặc các dấu ấn huyết thanh như nồng độ peptide lợi niệu type B (BNP). Thông thường, thông tim hiếm khi cần thiết để chẩn đoán.
- Chẩn đoán phân biệt
Chẩn đoán phân biệt tình trạng khó thở khi gắng sức ở người cao tuổi là rất rộng, bắt buộc phải siêu âm tim nếu có tiếng thổi. Chẩn đoán phân biệt tiếng thổi tống tâm thu bao gồm các nguyên nhân gây tắc nghẽn đường ra thất trái khác, như xơ hóa van động mạch chủ mà không hẹp đáng kể, hẹp van động mạch chủ dưới van (do tổn thương cố định hoặc do tắc nghẽn động như trong bệnh cơ tim phì đại) và hẹp van động mạch chủ trên van. (Xem mục ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)
- Đánh giá các giai đoạn AS
Các giai đoạn của AS được xác định dựa trên giải phẫu van, huyết động học của van, hệ quả huyết động của AS và các triệu chứng (bảng 3). (Xem mục ‘Đánh giá giai đoạn bệnh’ ở dưới.)