TÓM TẮT
-
Dịch tễ học – Mặc dù vắc xin dại hiệu quả đã được phát triển từ năm 1885, Tổ chức Y tế Thế giới ước tính mỗi năm có khoảng 59.000 ca tử vong do bệnh dại trên toàn cầu. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
-
Cơ chế bệnh sinh – Virus dại ban đầu nhân lên tại vị trí xâm nhập, sau đó xâm nhập vào các dây thần kinh vận động và cảm giác tại chỗ. Tiếp theo, virus di chuyển ngược dòng trong sợi trục của các dây thần kinh ngoại biên để tiến về tủy sống và não. (Xem ‘Cơ chế bệnh sinh’ ở dưới.)
-
Đường truyền bệnh – Hầu hết các trường hợp bệnh dại lây truyền từ động vật nhiễm bệnh thông qua vết cắn. Tại các nước nghèo, chó là nguồn lây chính trong 99% các ca bệnh ghi nhận ở người, trong khi tại Hoa Kỳ, dơi là nguyên nhân chủ yếu. Trong một số ít trường hợp, bệnh dại có thể xảy ra do tiếp xúc không qua vết cắn (ví dụ: nước bọt tiếp xúc với vùng da tổn thương hoặc niêm mạc, qua đường khí dung) hoặc thông qua ghép mô/tạng từ người hiến tặng nhiễm bệnh dại nhưng không được phát hiện. (Xem ‘Đường truyền bệnh’ ở dưới.)
-
Yếu tố vật chủ – Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tiến triển của bệnh ở vật chủ bao gồm: biến thể virus, liều lượng virus xâm nhập, khoảng cách từ vị trí cắn đến hệ thần kinh trung ương, mức độ chi phối thần kinh của vùng cơ thể tổn thương và đặc điểm di truyền của vật chủ. (Xem ‘Khả năng nhạy cảm với nhiễm trùng của vật chủ’ ở dưới.)
-
Thời gian ủ bệnh – Thời gian ủ bệnh trung bình từ 1 đến 3 tháng, nhưng có thể kéo dài hơn nhiều. (Xem ‘Thời gian ủ bệnh’ ở dưới.)
-
Giai đoạn tiền triệu – Giai đoạn tiền triệu bao gồm các triệu chứng không đặc hiệu như mệt mỏi, chán ăn, dễ kích động, sốt nhẹ, đau họng, đau đầu, buồn nôn và nôn. Ngoài ra, có thể xuất hiện các dấu hiệu và triệu chứng thần kinh đặc hiệu tại vị trí virus xâm nhập gợi ý bệnh dại, bao gồm dị cảm, đau và ngứa. (Xem ‘Triệu chứng tiền triệu’ ở dưới.)
-
Triệu chứng thần kinh – Sau giai đoạn tiền triệu là hội chứng thần kinh cấp tính của thể dại thể não hoặc thể liệt, thường kéo dài từ 2 đến 7 ngày nếu không được chăm sóc hỗ trợ. Các biểu hiện có thể bao gồm tăng hoạt, sốt kéo dài, rối loạn ý thức, co thắt họng hoặc co thắt hô hấp gây đau, kích thích thần kinh thực vật (tiết nhiều nước bọt), sợ nước và co giật. Thể liệt đặc trưng bởi liệt tứ chi và tổn thương cơ thắt. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
-
Nhiễm trùng không điển hình – Thể dại không điển hình thường được mô tả nhiều nhất ở những bệnh nhân nhiễm dại từ dơi. Các đặc điểm không điển hình bao gồm đau do bệnh lý thần kinh, cử động múa vờn ở chi bị cắn trong giai đoạn tiền triệu, các dấu hiệu tổn thương thân não khu trú, liệt dây thần kinh sọ, giật cơ và co giật. (Xem ‘Bệnh dại lâm sàng’ ở dưới.)
-
Chẩn đoán lâm sàng – Chẩn đoán lâm sàng bệnh dại thường khá rõ ràng trong hầu hết các trường hợp tại các nước nghèo khi bệnh nhân chưa được tiêm phòng xuất hiện sau vết cắn của động vật biết nhiễm dại hoặc nghi nhiễm dại. Ngược lại, tại các nước phát triển, bệnh nhân có thể tiếp xúc với nguồn bệnh mà không biết hoặc không báo cáo (ví dụ: tiếp xúc với dơi), dẫn đến chẩn đoán thường bị chậm trễ. (Xem ‘Chẩn đoán lâm sàng’ ở dưới.)
-
Chẩn đoán cận lâm sàng – Trước khi tử vong, chẩn đoán bệnh dại có thể thực hiện bằng cách phân lập virus hoặc phát hiện RNA của virus bằng kỹ thuật PCR từ nước bọt, nhuộm huỳnh quang đặc hiệu virus trên mẫu sinh thiết da, hoặc phát hiện kháng thể kháng dại trong huyết thanh hoặc dịch não tủy. (Xem ‘Chẩn đoán’ ở dưới.)
-
Thu thập bệnh phẩm – Vì độ nhạy của bất kỳ xét nghiệm chẩn đoán đơn lẻ nào đối với bệnh dại đều hạn chế, nên việc chẩn đoán trước tử vong thường đòi hỏi thu thập nhiều mẫu nước bọt, da, huyết thanh và dịch não tủy, đồng thời áp dụng nhiều phương pháp xét nghiệm tùy thuộc vào loại bệnh phẩm. (Xem ‘Thu thập bệnh phẩm’ ở dưới.)