TÓM TẮT
Giải phẫu và sinh lý điện học – Block nhánh phải (RBBB) xảy ra khi hoạt động điện bình thường trong hệ His-Purkinje bị gián đoạn, làm thay đổi trình tự kích hoạt bình thường, dẫn đến hình ảnh đặc trưng trên ECG là phức bộ QRS giãn rộng và thay đổi vector định hướng của sóng R và S (dạng sóng 1). (Xem thêm ‘Giải phẫu và sinh lý điện học’ và ‘Hình ảnh ECG và chẩn đoán’ ở dưới.)
Bó His chia ra tại điểm giao nhau giữa ranh giới sợi và cơ của vách liên thất thành nhánh trái và nhánh phải. Nhánh phải là một cấu trúc rời rạc, dài và mảnh, chạy dọc theo phía phải của vách liên thất; nguồn cung cấp máu chính là động mạch liên thất trước, mặc dù ở hầu hết bệnh nhân, nhánh này còn nhận được một phần cung cấp máu bàng hệ từ hệ động mạch vành phải hoặc động mạch mũ. (Xem thêm ‘Giải phẫu và sinh lý điện học’ ở dưới.)
Dịch tễ học – Tỷ lệ lưu hành của block nhánh phải, thường tăng dần theo tuổi, ước tính dao động từ 0,2 đến 0,8% trong quần thể chung. (Xem thêm ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Nguyên nhân – Nhiều tình trạng lâm sàng khác nhau có liên quan đến sự phát triển của block nhánh phải hoặc các dấu hiệu điện tâm đồ tương tự (xem ‘Căn nguyên’ ở dưới):
- Block nhánh phải liên quan đến một số loại bệnh tim cấu trúc bao gồm tâm phế mạn, thuyên tắc phổi, thiếu máu/nhồi máu cơ tim, viêm cơ tim, tăng huyết áp và bệnh tim bẩm sinh. (Xem thêm ‘Bệnh tim cấu trúc’ ở dưới.)
- Block nhánh phải có thể xuất hiện do can thiệp y tế (ví dụ: ở bệnh nhân thông tim phải hoặc đốt vách liên thất đáy bằng ethanol). (Xem thêm ‘Block nhánh phải do can thiệp’ ở dưới.)
Đặc điểm chẩn đoán – Các đặc điểm trên điện tâm đồ của phức bộ QRS để chẩn đoán block nhánh phải ở người trưởng thành bao gồm: thời gian QRS ≥ 120 ms, dạng rsr’, rsR’ hoặc rSR’ ở chuyển đạo V1 hoặc V2; sóng S kéo dài hơn sóng R hoặc lớn hơn 40 ms ở chuyển đạo I và V6; thời gian đạt đỉnh sóng R bình thường ở V5 và V6 nhưng lớn hơn 50 ms ở V1. Các thay đổi đi kèm của đoạn ST và sóng T là do sự thay đổi trình tự tái cực. (Xem thêm ‘Hình ảnh ECG và chẩn đoán’ ở dưới.)
Chẩn đoán phân biệt – Cần loại trừ nhịp thất, điều hòa nhịp thất và hội chứng Brugada — những tình trạng có phức bộ QRS hình thái tương tự block nhánh phải — trước khi đưa ra chẩn đoán xác định. (Xem thêm ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)
Ảnh hưởng đến chẩn đoán nhồi máu cơ tim – Sự hiện diện của block nhánh phải không gây ảnh hưởng đến việc chẩn đoán nhồi máu cơ tim đồng thời dựa trên các tiêu chuẩn sóng Q và sóng R thông thường, vì các lực vector trong 30 đến 40 ms đầu tiên về cơ bản là bình thường. (Xem thêm ‘Các cân nhắc chẩn đoán khác’ ở dưới.)
Tiên lượng – Tiên lượng của bệnh nhân block nhánh phải chủ yếu phụ thuộc vào loại và mức độ nghiêm trọng của bệnh tim cơ bản đi kèm, cũng như sự hiện diện của các rối loạn dẫn truyền khác. Kết cục dài hạn thường rất tốt ở những bệnh nhân không có bệnh tim rõ rệt, trong khi những người có block nhánh phải trên nền bệnh tim thường có tiên lượng xấu hơn những người không có block nhánh. (Xem thêm ‘Tiên lượng’ ở dưới.)
Xử trí – Đối với bệnh nhân không triệu chứng có block nhánh phải đơn độc (hoàn toàn hoặc không hoàn toàn) và không có bằng chứng bệnh tim khác, không cần đánh giá chẩn đoán thêm hoặc điều trị đặc hiệu. Tuy nhiên, chỉ định đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn cho bệnh nhân block nhánh phải xuất hiện các rối loạn hệ dẫn truyền có triệu chứng, chẳng hạn như block nhĩ thất (AV) độ III hoặc độ II type 2 mà không liên quan đến tình trạng có thể hồi phục hoặc thoáng qua. (Xem thêm ‘Đánh giá và điều trị’ ở dưới.)