TÓM TẮT
Định nghĩa: Nhịp nhanh thất không bền vững (NSVT) thường được định nghĩa là có ≥ 3 nhịp thất liên tiếp, tần số tim > 100 chu kỳ/phút và thời gian kéo dài dưới 30 giây (Xem thêm ‘Định nghĩa’ ở dưới).
Biểu hiện lâm sàng: Bệnh nhân NSVT thường không có triệu chứng, tuy nhiên một số trường hợp có thể ghi nhận đánh trống ngực, đau ngực, khó thở, ngất hoặc tiền ngất (Xem thêm ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới).
Đánh giá chẩn đoán: Bệnh nhân NSVT cần được đo điện tâm đồ (ECG) 12 chuyển đạo. Cần xem xét các nguyên nhân gây nhịp nhanh thất (VT) ngoài tim có thể điều trị được. Bệnh nhân nên được siêu âm tim hoặc chụp cộng hưởng từ tim (CMR) để đánh giá bệnh lý cấu trúc tim. Nghiệm pháp gắng sức và thăm dò điện sinh lý tim được chỉ định cho một số đối tượng bệnh nhân cụ thể. Kết quả xét nghiệm sẽ giúp xác định có bệnh lý cấu trúc tim hay không (Xem thêm ‘Đánh giá chẩn đoán’ ở dưới).
Điều trị cho bệnh nhân có cấu trúc tim bình thường
Bệnh nhân không triệu chứng: Không yêu cầu điều trị đặc hiệu nhắm vào NSVT (Xem thêm ‘Điều trị cho bệnh nhân có cấu trúc tim bình thường’ ở dưới).
Bệnh nhân có triệu chứng: Chúng tôi đề xuất sử dụng thuốc chẹn beta thay vì thuốc chẹn kênh calci hoặc thuốc chống loạn nhịp (Khuyến cáo 2C). Đối với những bệnh nhân NSVT vẫn còn triệu chứng dù đã dùng chẹn beta, chúng tôi đề xuất phối hợp thêm thuốc chẹn kênh calci không dihydropyridine (như verapamil hoặc diltiazem) thay vì dùng thuốc chống loạn nhịp (Khuyến cáo 2C). Với bệnh nhân có cấu trúc tim bình thường nhưng NSVT kéo dài và có triệu chứng, triệt đốt bằng sóng cao tần (RFA) và thuốc chống loạn nhịp đều là những lựa chọn phù hợp. RFA hiệu quả nhất đối với các loạn nhịp vô căn, khởi phát từ các đường thoát, vách liên thất hoặc cơ nhú. Với bệnh nhân có ổ loạn nhịp ở các vị trí khác, chúng tôi thường bắt đầu bằng thuốc chống loạn nhịp (Xem thêm ‘Điều trị cho bệnh nhân có cấu trúc tim bình thường’ ở dưới).
Điều trị cho bệnh nhân có bệnh lý cấu trúc tim
Thuốc chẹn beta cho tất cả bệnh nhân: Đối với bệnh nhân có bệnh lý cấu trúc tim kèm NSVT, chúng tôi đề xuất bổ sung thuốc chẹn beta (Khuyến cáo 2C) nếu bệnh nhân chưa sử dụng, nhằm giảm khả năng tiến triển thành nhịp nhanh thất bền vững. Không sử dụng thuốc chẹn kênh calci không dihydropyridine cho bệnh nhân giảm phân suất tống máu do tăng nguy cơ suy tim mất bù (Xem thêm ‘Điều trị cho bệnh nhân có bệnh lý cấu trúc tim’ ở dưới).
Bệnh nhân không triệu chứng: Ngoại trừ một số trường hợp hiếm gặp, chúng tôi không sử dụng thuốc chống loạn nhịp hoặc triệt đốt bằng sóng cao tần (RFA) cho bệnh nhân giảm phân suất tống máu không có triệu chứng (Xem thêm ‘Điều trị cho bệnh nhân có bệnh lý cấu trúc tim’ ở dưới).
Bệnh nhân có triệu chứng: Đối với bệnh nhân vẫn còn triệu chứng dù đã điều trị bằng chẹn beta, RFA và thuốc chống loạn nhịp đều là những lựa chọn phù hợp. Các bác sĩ làm việc tại các trung tâm có chuyên môn về triệt đốt VT có thể ưu tiên bắt đầu bằng RFA, trong khi những người khác có thể chọn thuốc chống loạn nhịp (Xem thêm ‘Điều trị cho bệnh nhân có bệnh lý cấu trúc tim’ ở dưới).
Máy phá rung tim cấy ghép (ICD): Một số bệnh nhân có bệnh lý cấu trúc tim kèm NSVT có nguy cơ đột tử do tim tăng cao. Khi đó, chỉ định đặt máy phá rung tim cấy ghép (ICD) có thể được cân nhắc. Các thảo luận chi tiết về tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân đặt ICD được trình bày ở phần khác (Xem thêm ‘Các xét nghiệm được chỉ định cho một số bệnh nhân’ ở dưới và “Dự phòng tiên phát đột tử do tim ở bệnh nhân bệnh cơ tim và suy tim phân suất tống máu thất trái giảm”).