Lựa chọn thuốc tê
Thông thường, thuốc tê tác dụng kéo dài (ví dụ: bupivacaine 0,25% hoặc ropivacaine 0,2%) được sử dụng cho mỗi kỹ thuật gây tê thành ngực (bảng 1). (Xem thêm mục ‘Thuốc’ trong “Tổng quan về gây tê thần kinh ngoại vi”.)
Biến chứng
Cho đến nay, có rất ít báo cáo về các biến chứng của gây tê thành ngực. Các nguy cơ về mặt lý thuyết bao gồm: tràn khí màng phổi; ngộ độc thuốc tê toàn thân; tổn thương thần kinh ngực dài (dẫn đến hiện tượng xương bả vai nhô cao), thần kinh ngực lưng hoặc thần kinh ngực; hoặc thuốc tê lan vào khoang ngoài màng cứng trong khi thực hiện gây tê mặt phẳng cơ dựng sống (ESP), dẫn đến các biến chứng tương tự như gây tê cạnh sống ngực (TPVB).
TÓM TẮT
-
Gây tê thần kinh liên sườn – Các dây thần kinh liên sườn ngực và bụng-ngực có thể được gây tê để tạo đáp ứng vô cảm và/hoặc giảm đau cho các phẫu thuật lồng ngực, phẫu thuật bụng trên và điều trị đau do bệnh lý thần kinh (hình 2). Mỗi vị trí gây tê liên sườn sẽ tạo ra một dải vô cảm tại mức tương ứng (hình 3). Kỹ thuật này dễ thực hiện, tuy nhiên thường cần phải thực hiện tại nhiều vị trí. (Xem phần ‘Gây tê thần kinh liên sườn’ ở dưới.)
-
Gây tê cạnh sống ngực – Gây tê cạnh sống ngực (TPVB) là kỹ thuật gây tê khoang, thường được sử dụng nhất để vô cảm và/hoặc giảm đau trong phẫu thuật đoạn nhũ, phẫu thuật thẩm mỹ vú, phẫu thuật lồng ngực, cắt thận và điều trị gãy xương sườn. So với gây tê ngoài màng cứng, TPVB cho phép thực hiện gây tê một bên. (Xem phần ‘Gây tê cạnh sống ngực’ ở dưới và “Hướng dẫn quy trình gây tê cạnh sống ngực”.)
-
Gây tê mặt phẳng mạc ngực – Các kỹ thuật gây tê mặt phẳng mạc vùng ngực bao gồm Pecs I (mặt phẳng liên cơ ngực), Pecs II (mặt phẳng liên cơ ngực kết hợp mặt phẳng cơ ngực – cơ trước răng cưa), mặt phẳng cơ trước răng cưa (SP), mặt phẳng cơ ngang ngực (TTMP) và mặt phẳng cơ dựng sống (ESP) (hình 4 và hình ảnh 2). Những kỹ thuật này được chỉ định cho các phẫu thuật nông và sâu ở thành ngực, vùng nách, vùng bụng trên, vùng lưng sau và vùng cột sống. (Xem phần ‘Gây tê mặt phẳng mạc thành ngực’ ở dưới.)
-
Hỗ trợ bởi siêu âm – Chúng tôi khuyến cáo sử dụng siêu âm dẫn đường cho các kỹ thuật gây tê mặt phẳng mạc vùng ngực (Khuyến cáo 2C) nhằm tăng tỷ lệ thành công và giảm thiểu biến chứng. Siêu âm cũng được sử dụng trong gây tê thần kinh liên sườn, mặc dù kỹ thuật xác định mốc giải phẫu vẫn có thể thực hiện được. (Xem phần ‘Gây tê mặt phẳng mạc thành ngực’ và ‘Kỹ thuật gây tê thần kinh liên sườn’ ở dưới.)