TÓM TẮT
Ứng dụng và hạn chế của siêu âm khớp háng – Siêu âm là một công cụ lâm sàng hữu ích trong đánh giá nhiều tổn thương và bệnh lý khớp háng, đặc biệt khi các triệu chứng xuất hiện trong vận động (ví dụ: háng bật – snapping hip). Mặc dù vị trí tương đối sâu của nhiều cấu trúc khớp háng gây ra những thách thức nhất định, nhưng việc lựa chọn đầu dò phù hợp và tối ưu hóa hình ảnh sẽ giúp quan sát rõ nhiều cấu trúc. Tuy nhiên, việc đánh giá không toàn diện các cấu trúc trong khớp là một hạn chế cố hữu của công nghệ siêu âm. Dù siêu âm đóng vai trò quan trọng, nhưng trong một số trường hợp vẫn cần các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh nâng cao khác để đánh giá đầy đủ. (Xem thêm mục ‘Công dụng, ưu điểm và hạn chế của siêu âm khớp háng’ ở dưới.)
Giải phẫu – Việc nắm vững giải phẫu khớp háng và các cấu trúc xung quanh là điều thiết yếu để đọc và phân tích hình ảnh siêu âm. Phần tóm tắt sơ lược về các cấu trúc được đánh giá trong thăm khám khớp háng cơ bản đã được trình bày ở trên; mô tả chi tiết về giải phẫu và cơ sinh học khớp háng được cung cấp trong một mục riêng. (Xem “Thăm khám hệ cơ xương khớp vùng háng và bẹn”, phần ‘Giải phẫu và cơ sinh học’.)
Lựa chọn đầu dò – Ưu tiên sử dụng đầu dò linear tần số cao để đánh giá các cấu trúc nông của vùng háng nếu thể trạng bệnh nhân cho phép. Tuy nhiên, đầu dò curvilinear tần số thấp thường được yêu cầu để khảo sát các cấu trúc sâu hoặc đối với những bệnh nhân có thể trạng lớn. (Xem thêm ‘Hướng dẫn, các cấu trúc cần khảo sát và tư thế bệnh nhân’ ở dưới.)
Quy trình thăm khám – Đánh giá siêu âm khớp háng được thực hiện theo hệ thống phân vùng (quadrant) như đã mô tả trong bài. Các phân vùng chính và các cấu trúc cần khảo sát bao gồm:
- Vùng trước: Các cấu trúc được đánh giá bao gồm: khớp háng (hình 1), bao gồm chỏm xương đùi, cổ xương đùi, bao khớp, ngách bao hoạt dịch trước và sụn viền trước; dây thần kinh đùi (hình 1); động mạch và tĩnh mạch đùi; cơ, gân và túi hoạt dịch cơ thắt lưng chậu (hình 3); cơ và gân may; cơ và gân căng mạc đùi (hình 5); thần kinh bì đùi ngoài; cơ và gân thẳng đùi.
- Vùng ngoài: Các cấu trúc được đánh giá bao gồm: điểm bám của cơ mông lớn và cơ căng mạc đùi vào mạc đùi/dải chậu chày (hình 5); cơ và gân mông bé; cơ và gân mông nhỡ; túi hoạt dịch mấu chuyển lớn (túi hoạt dịch dưới cơ mông lớn) (hình 7).
- Vùng trong: Các cấu trúc được đánh giá bao gồm: thần kinh, động mạch và tĩnh mạch đùi; cơ và gân khép dài (hình 8); cơ và gân khép ngắn; cơ và gân khép lớn; cơ và gân thon; gân cơ thắt lưng chậu đoạn xa; xương mu và khớp mu; cơ và gân bụng thẳng đoạn xa.
- Vùng sau: Các cấu trúc được đánh giá bao gồm: cơ và gân mông lớn (hình 11, hình 6 và hình 12); cơ và gân mông nhỡ; các cơ xoay ngoài ngắn (tùy trường hợp) (hình 13); các cơ và gân hamstring (hình 14); ụ ngồi và túi hoạt dịch ngồi-mông; thần kinh tọa (hình 13); khớp háng phía sau (tùy trường hợp).