Điều trị bằng Digoxin: Liều ban đầu, theo dõi và điều chỉnh liều

TÓM TẮT

Chỉ định: Các glycoside tim như digoxin có tác dụng tăng sức co cơ tim, tác động lên hệ nội tiết – thần kinh và điện sinh lý, là cơ sở để sử dụng trong hai tình huống lâm sàng: suy tim phân suất tống máu giảm và một số loại nhịp nhanh trên thất, chủ yếu là rung nhĩ (AF) và cuồng nhĩ. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)

Liều nạp chậm (Slow loading): Đây là phương pháp được ưu tiên cho hầu hết bệnh nhân. Liều nạp chậm được thực hiện bằng cách bắt đầu với liều duy trì đường uống từ 0,125 đến 0,25 mg mỗi ngày; nồng độ thuốc trong huyết thanh sẽ đạt trạng thái ổn định sau khoảng 7 đến 10 ngày ở đối tượng bình thường. (Xem ‘Liều nạp digoxin chậm’ ở dưới.)

Liều nạp nhanh (Rapid loading): Phương pháp này có thể được sử dụng để kiểm soát đáp ứng thất trong rung nhĩ và cuồng nhĩ (xem ‘Liều nạp digoxin nhanh’ ở dưới):

  • Liều tiêm tĩnh mạch khởi đầu từ 0,25 đến 0,5 mg digoxin, truyền trong vài phút, sau đó dùng 0,25 mg mỗi 6 giờ, với tổng liều từ 0,75 đến 1,5 mg. Cần điều chỉnh liều phù hợp cho bệnh nhân suy thận và khi phối hợp với một số thuốc nhất định. (Xem ‘Điều chỉnh liều trong bệnh thận’‘Điều chỉnh liều khi phối hợp thuốc’ ở dưới.)
  • Liều nạp nhanh đường uống có thể thực hiện bằng cách dùng khởi đầu 0,5 mg, sau đó dùng 0,25 mg mỗi 6 giờ, với tổng liều nạp từ 0,75 đến 1,5 mg.

Các lưu ý khi theo dõi

Khoảng điều trị hẹp: Do digoxin có khoảng điều trị tương đối hẹp và có sự chồng lấp đáng kể giữa nồng độ điều trị và nồng độ độc, bệnh nhân dùng digoxin cần được theo dõi nồng độ thuốc trong huyết thanh. Nồng độ digoxin tối ưu thay đổi tùy theo tình trạng lâm sàng. Việc theo dõi nồng độ digoxin trong huyết thanh đặc biệt quan trọng ở những người suy thận mạn, chức năng thận thay đổi nhanh hoặc có rối loạn điện giải (ví dụ: hạ kali máu, hạ magie máu). (Xem ‘Theo dõi nồng độ digoxin huyết thanh’ ở dưới.)

Điều chỉnh liều: Với điều kiện nồng độ digoxin được lấy đúng thời điểm, ở trạng thái ổn định và trong điều kiện chức năng thận ổn định, sẽ có mối quan hệ tuyến tính giữa liều digoxin và nồng độ trong huyết thanh; mối quan hệ này nên được tuân thủ khi cần điều chỉnh liều. (Xem ‘Điều chỉnh liều digoxin’ ở dưới.)

Khi digoxin được sử dụng thuần túy để kiểm soát tần số thất trong rung nhĩ, nồng độ digoxin trong huyết thanh nên được theo dõi định kỳ, mặc dù nồng độ thuốc thường không tương quan với mức độ kiểm soát tần số thất mà chủ yếu được dùng làm căn cứ để nhận biết độc tính hơn là để điều chỉnh điều trị. (Xem ‘Rung nhĩ’ ở dưới.)

Bệnh nhân suy thận: Khoảng 70 đến 80% digoxin được đào thải qua nước tiểu; do đó, thời gian bán thải của digoxin kéo dài ở bệnh nhân suy thận. Suy thận cũng làm giảm thể tích phân bố ngoài mạch của digoxin, một tác động khác có thể làm tăng nồng độ thuốc trong huyết tương. Kết quả là, chúng tôi giảm cả liều nạp khởi đầu và liều duy trì ở bệnh nhân suy thận (bảng 1). (Xem ‘Điều chỉnh liều trong bệnh thận’ ở dưới.)

Bệnh nhân phối hợp thuốc: Quinidine, verapamil và amiodarone (các thuốc ức chế chất vận chuyển tống thuốc P-glycoprotein) có thể làm tăng nồng độ digoxin trong huyết thanh, do đó cần giảm liều digoxin hàng ngày (bảng 2). Ngược lại, các chất cảm ứng P-glycoprotein (ví dụ: phenytoin, rifampin, v.v.) có thể làm giảm nồng độ digoxin trong huyết thanh.

Cholestyramine và thuốc kháng acid có thể làm giảm hấp thu digoxin qua đường ruột. Điều này đòi hỏi phải giãn cách thời gian dùng thuốc hoặc tăng liều digoxin hàng ngày.

Các tương tác cụ thể của digoxin với các thuốc khác có thể được xác định bằng chương trình tương tác thuốc đi kèm. (Xem ‘Điều chỉnh liều khi phối hợp thuốc’ ở dưới.)

Gói truy cập

Dùng thử

0 VND

  • Trải nghiệm một số nội dung trong thư viện.
  • Khôn cần đăng ký tài khoản.
  • Mua gói truy cập khi bạn sẵn sàng.

Gói truy cập một năm

189.000 VND

  • Truy cập toàn bộ thư viện mọi lúc, mọi nơi, và trên mọi thiết bị.
  • Nội dung cập nhật mỗi ngày.
  • Thanh toán bằng quét VietQR, nhanh chóng và an toàn.
  • Hỗ trợ trực tuyến.
Already a member? Log in here