TÓM TẮT
Yếu tố di truyền và đánh giá nguy cơ
Ung thư tuyến tiền liệt có yếu tố di truyền mạnh mẽ. Tiền sử gia đình mắc ung thư tuyến tiền liệt và/hoặc các loại ung thư có khả năng di truyền khác (ví dụ: ung thư vú chẩn đoán trước 50 tuổi, ung thư vú ở nam giới, ung thư đại trực tràng, ung thư buồng trứng, ung thư tụy, u hắc tố) có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư tuyến tiền liệt. (Xem ‘Yếu tố di truyền’ ở dưới.)
Tư vấn và xét nghiệm di truyền nên được chỉ định cho tất cả nam giới có các đặc điểm sau:
- Tiền sử gia đình có các đột biến dòng mầm nguy cơ cao (ví dụ: gen gây nhạy cảm ung thư vú [BRCA1] và BRCA2, đột biến Lynch).
- Tiền sử gia đình mắc ung thư tuyến tiền liệt mức độ nặng (anh, cha hoặc nhiều thành viên trong gia đình chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt [nhưng không phải thể khu trú lâm sàng nhóm độ 1 (bảng 2)] trước 60 tuổi hoặc tử vong do ung thư tuyến tiền liệt).
- Nguồn gốc Do Thái Ashkenazi.
- Có từ ba loại ung thư trở lên ở cùng một nhánh gia đình, đặc biệt là chẩn đoán từ 50 tuổi trở xuống: ung thư đường mật, ung thư đại trực tràng, ung thư vú, ung thư nội mạc tử cung, ung thư dạ dày, ung thư thận, u hắc tố, ung thư buồng trứng, ung thư tụy, ung thư tuyến tiền liệt (không bao gồm thể khu trú lâm sàng nhóm độ 1), ung thư ruột non hoặc ung thư biểu mô đường niệu.
- Tiền sử bản thân mắc ung thư tuyến tiền liệt độ cao (điểm Gleason ≥7) kèm nguồn gốc Do Thái Ashkenazi; có một hoặc nhiều người thân gần mắc ung thư vú ≤50 tuổi hoặc ung thư buồng trứng, tụy, hoặc ung thư tuyến tiền liệt di căn hoặc thể nội ống ở mọi lứa tuổi; hoặc có từ hai người thân gần trở lên mắc ung thư vú hoặc tuyến tiền liệt (mọi độ) ở mọi lứa tuổi.
- Tiền sử bản thân mắc ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn vùng (có di căn hạch) hoặc di căn xa, đặc biệt khi kết quả giải phẫu bệnh ghi nhận mô học thể nội ống hoặc thể sàng.
Đánh giá nguy cơ di truyền cần bao gồm khai thác chi tiết tiền sử ung thư của bản thân và gia đình (họ hàng bậc một và bậc hai), bao gồm loại ung thư, độ và giai đoạn (nếu có), tuổi khi chẩn đoán và nguồn gốc sắc tộc. Nếu tiền sử gia đình gợi ý, bệnh nhân nên được chuyển đến tư vấn và xét nghiệm di truyền phù hợp (bảng 1). Giáo dục di truyền trước xét nghiệm cần thảo luận về rủi ro và lợi ích của xét nghiệm di truyền, lựa chọn xét nghiệm, diễn giải kết quả, những thay đổi trong quản lý bệnh và theo dõi phù hợp cho bệnh nhân cũng như các thành viên trong gia đình. (Xem ‘Ai cần chuyển gửi đánh giá di truyền’ ở dưới.)
Các biến thể/đột biến dòng mầm tương đối hiếm gặp ở một số gen làm tăng nguy cơ và độ ác tính của ung thư tuyến tiền liệt. Những yếu tố di truyền này (đặc biệt là đột biến BRCA2 và BRCA1) cũng có thể dẫn đến những thay đổi trong chiến lược tầm soát và quyết định điều trị (bảng 3). (Xem ‘Các gen đặc hiệu liên quan đến khuynh hướng di truyền’ và ‘Hệ quả trong điều trị’ ở dưới.)
Xét nghiệm genomic khối u/tế bào soma (có thể thực hiện để quyết định điều trị và cân nhắc tham gia thử nghiệm lâm sàng) có thể phát hiện các đột biến trong các gen khuynh hướng ung thư đã biết (như BRCA2, BRCA1, mutL homolog 1 [MLH1], mutS homolog 2 [MSH2], mutS homolog 6 [MSH6], postmeiotic segregation increased 2 [PMS2]) và cho thấy khả năng mắc hội chứng khuynh hướng ung thư di truyền, bất kể tiền sử gia đình. Bệnh nhân cần được tư vấn về khả năng này trước khi tiến hành giải trình tự khối u/tế bào soma; nếu kết quả gợi ý, cần chuyển gửi tư vấn di truyền để thực hiện xét nghiệm di truyền dòng mầm xác nhận. (Xem ‘Hệ quả của xét nghiệm genomic khối u soma’ ở dưới.)
Khi đánh giá nguy cơ phát triển ung thư tuyến tiền liệt, một xét nghiệm di truyền không phát hiện đột biến gen khuynh hướng ung thư không loại trừ đóng góp về nguy cơ từ tiền sử gia đình mắc ung thư mạnh mẽ. (Xem ‘Tác động của tiền sử gia đình’ ở dưới.)
Hệ quả đối với tầm soát ung thư tuyến tiền liệt
Hiện có sự khác biệt trong các hướng dẫn tầm soát và phát hiện sớm ung thư tuyến tiền liệt cho nam giới có nguy cơ tăng cao do tiền sử gia đình và/hoặc các đột biến gây bệnh di truyền đã biết từ nhiều hiệp hội chuyên khoa. Dữ liệu từ nghiên cứu IMPACT (Identification of Men with a Genetic Predisposition to Prostate Cancer) cho thấy tỷ lệ phát hiện ung thư tăng cao đáng kể ở những người mang biến thể (đột biến) gây bệnh BRCA2, MSH2 và MSH6 khi nồng độ kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) >3 ng/mL, điều này khẳng định tầm quan trọng của việc tầm soát PSA chặt chẽ ở nhóm đối tượng này.
Chúng tôi khuyên bệnh nhân nên thăm khám tại các trung tâm chuyên sâu (center of excellence) và khuyến khích tham gia các thử nghiệm lâm sàng về chiến lược tầm soát (nếu có thể). Trong trường hợp không thể tham gia thử nghiệm lâm sàng, hướng tiếp cận của chúng tôi được trình bày trong bảng (bảng 4). (Xem ‘Hệ quả tầm soát khi tăng nguy cơ di truyền’ ở dưới.)