TÓM TẮT
Tổng quan – Xơ hóa cầu thận khu trú phân đoạn (FSGS) có thể do nhiều đột biến gen mã hóa cho các protein biểu hiện chủ yếu ở tế bào có chân (podocytes), màng ngăn khe (slit diaphragm) và các thành phần khác của hàng rào lọc cầu thận như màng đáy cầu thận (GBM). (Xem thêm phần ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
Dịch tễ học – Tỷ lệ mắc FSGS di truyền thay đổi đáng kể tùy theo quần thể nghiên cứu. Ví dụ, ở những vùng có tỷ lệ kết hôn cận huyết cao, tỷ lệ FSGS di truyền trong số tất cả bệnh nhân FSGS có thể lên tới 30%, trong khi ở những quần thể không có hiện tượng này, tỷ lệ có thể thấp hơn 5%. (Xem thêm phần ‘Dịch tễ học của FSGS di truyền’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng – Các thể FSGS di truyền khởi phát ở trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ thường biểu hiện đầy đủ hội chứng thận hư và xóa chân tế bào có chân lan tỏa trên hiển vi điện tử (EM). Tuy nhiên, kiểu hình lâm sàng và mô bệnh học của FSGS di truyền khởi phát ở người trưởng thành rất đa dạng và hiếm khi đặc hiệu; cùng một đột biến có thể cho ra các đặc điểm hình thái khác nhau trên cả hiển vi quang học (LM) và EM. (Xem thêm phần ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
Chỉ định xét nghiệm di truyền – Việc quyết định thực hiện xét nghiệm di truyền phụ thuộc vào biểu hiện lâm sàng của bệnh nhân và đặc điểm di truyền của bệnh trong quần thể nơi bác sĩ lâm sàng đang thực hành. Việc áp dụng xét nghiệm di truyền trong đánh giá bệnh nhân người lớn có tổn thương FSGS trên sinh thiết thận và bệnh nhân trẻ em mắc hội chứng thận hư vô căn kháng glucocorticoid được thảo luận riêng. (Xem “Focal segmental glomerulosclerosis: Clinical features and diagnosis”, mục ‘Differentiating between primary, secondary, and genetic FSGS’ và “Steroid-resistant nephrotic syndrome in children: Evaluation and management”, mục ‘Genetic testing’.)
Các gen gây bệnh FSGS
- Phần lớn các nguyên nhân di truyền gây FSGS ở trẻ em di truyền theo kiểu autosomal recessive (di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường) và khởi phát trong năm đầu đời, trong đó phổ biến nhất là đột biến các gen mã hóa cho nephrin (NPHS1), podocin (NPHS2) và phospholipase C epsilon 1 (PLCE1). Bệnh di truyền lặn thường có độ xâm nhập hoàn toàn, rất hiếm trường hợp không triệu chứng.
- Các nguyên nhân di truyền theo kiểu autosomal dominant (di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường) thường gặp hơn ở trẻ lớn, thanh thiếu niên và người trưởng thành. Nguyên nhân đơn gen phổ biến nhất của FSGS di truyền trội là đột biến gen inverted formin, FH2 and WH2 domain containing (INF2). Các gen chính khác liên quan đến FSGS di truyền trội bao gồm actinin alpha 4 (ACTN4), TRPC6, WT1 và LMX1B.
- Đột biến gen collagen type IV alpha 3, 4 và 5 ngày càng được ghi nhận là nguyên nhân di truyền phổ biến nhất gây FSGS ở người trưởng thành. (Xem thêm phần ‘Các gen gây bệnh FSGS’ ở dưới.)
FSGS ở bệnh nhân da đen – Sự tăng nhạy cảm với FSGS ở bệnh nhân da đen có thể được giải thích một phần bởi các yếu tố di truyền, mặc dù các yếu tố kinh tế xã hội và môi trường cũng có thể đóng một vai trò nhất định. Các biến thể trong gen apolipoprotein L1 (APOL1) đã được chứng minh là liên quan chặt chẽ với bệnh thận không do đái tháo đường ở bệnh nhân da đen. Các đa hình trong gen APOL1 dường như chỉ biểu hiện ở những người gốc Phi và ít gặp hơn ở các quần thể khác. (Xem thêm phần ‘FSGS ở bệnh nhân da đen’ ở dưới.)