TÓM TẮT
Bối cảnh – Cần sa y tế hiện đã hợp pháp tại nhiều bang của Hoa Kỳ cũng như nhiều khu vực khác trên thế giới và ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng. (Xem thêm ‘Chính sách về cần sa y tế tại Hoa Kỳ’ và ‘Dịch tễ học về sử dụng cần sa cho người trưởng thành và cần sa y tế tại Hoa Kỳ’ ở dưới.)
Chế phẩm – Có nhiều loại chế phẩm cần sa y tế với các đường dùng khác nhau. Nồng độ và tỷ lệ các cannabinoid thay đổi tùy loại, và các chế phẩm thường được đặc trưng bởi tỷ lệ giữa delta-9-tetrahydrocannabinol (THC) và cannabidiol (CBD). Tại Hoa Kỳ, một số chế phẩm cần sa y tế đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) phê duyệt, trong khi một số khác thì chưa. (Xem thêm ‘Các chế phẩm cần sa và đường dùng’ ở dưới.)
Ứng dụng lâm sàng – Đau mãn tính là một trong những chỉ định phổ biến nhất của cần sa y tế. Các tình trạng khác bao gồm, nhưng không giới hạn ở: xơ cứng rải rác, rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD), buồn nôn do hóa trị và các hội chứng co giật. (Xem thêm ‘Ứng dụng lâm sàng’ ở dưới.)
Đánh giá bệnh nhân
- Tiền sử – Chúng tôi khai thác bệnh sử của tình trạng mà bệnh nhân muốn dùng cần sa y tế để điều trị, bao gồm thời điểm khởi phát, thời gian diễn tiến, đặc điểm và các phương pháp điều trị trước đó. Đồng thời, cần khai thác tiền sử tâm thần của bản thân và gia đình, cũng như lịch sử sử dụng cần sa trước đây và hiện tại của bệnh nhân. (Xem thêm ‘Đánh giá bệnh nhân’ ở dưới.)
- Bệnh đồng mắc – Cần thận trọng với một số tình trạng đồng mắc như rối loạn sử dụng chất, đang điều trị opioid kéo dài, rối loạn nhận thức hoặc tâm thần, loạn nhịp tim hoặc bệnh động mạch vành, phụ nữ mang thai và cho con bú. (Xem thêm ‘Các bệnh đồng mắc cần thận trọng’ ở dưới.)
- Thuốc dùng kèm – Một số loại thuốc có tương tác quan trọng với cần sa (bảng 2). (Xem thêm ‘Tương tác thuốc-thuốc’ ở dưới.)
Bắt đầu sử dụng cần sa y tế
- Giảm thiểu tác hại – Đối với những bệnh nhân bắt đầu hoặc đang tiếp tục sử dụng cần sa, chúng tôi thúc đẩy chiến lược giảm thiểu tác hại bằng cách nhấn mạnh rằng cần sa được quản lý sẽ an toàn hơn cần sa không chính thống. Chúng tôi cũng tư vấn cho bệnh nhân các nguyên tắc giảm thiểu tác hại khi dùng cần sa. (Xem thêm ‘Sử dụng các nguyên tắc giảm thiểu tác hại’ ở dưới.)
- Lựa chọn sản phẩm cần sa – Việc lựa chọn sản phẩm khởi đầu và đường dùng dựa trên phân tích nguy cơ và lợi ích của từng loại sản phẩm hiện có. Cách tiếp cận chung của chúng tôi như sau (xem thêm ‘Lựa chọn sản phẩm cần sa’ ở dưới):
- Đối với bệnh nhân chưa từng dùng cần sa (cannabis-naïve) điều trị các triệu chứng cấp tính: chúng tôi đề xuất dùng thuốc nhỏ dưới lưỡi (sublingual tincture) thay vì các sản phẩm khác (Khuyến cáo 2C) vì loại này khởi phát tác dụng tương đối nhanh và không gây tác dụng phụ lên hô hấp.
- Đối với bệnh nhân dùng cần sa điều trị các triệu chứng mãn tính hàng ngày: chúng tôi đề xuất các sản phẩm đường uống thay vì các sản phẩm khác (Khuyến cáo 2C) do thời gian tác dụng kéo dài hơn và không gây tác dụng phụ lên hô hấp.
- Đối với bệnh nhân không dung nạp được sản phẩm đường uống hoặc dưới lưỡi (ví dụ: dùng cần sa để điều trị buồn nôn nặng): cần sa dạng hóa hơi là một lựa chọn thay thế hợp lý.
- Liều khởi đầu – Với những bệnh nhân chưa từng dùng cần sa, chúng tôi khuyên nên bắt đầu với các chế phẩm có tỷ lệ THC và CBD bằng nhau, ở liều thấp nhất có thể (thường là 2,5 mg THC : 2,5 mg CBD), sau đó tăng liều mỗi lần 2,5 mg THC sau mỗi hai đến năm ngày. Những bệnh nhân đã có kinh nghiệm dùng cần sa thường cần các chế phẩm ưu thế THC (thường là tỷ lệ THC:CBD là 2:1, 10:1 hoặc 20:1). (Xem thêm ‘Lựa chọn liều khởi đầu’ ở dưới.)
- Khuyến nghị và thỏa thuận điều trị – Có các mẫu chứng nhận cần sa y tế theo quy định riêng của từng tiểu bang cần được cung cấp cho bệnh nhân và cơ sở cung cấp cần sa y tế. Chúng tôi xem xét và ký kết một bản thỏa thuận giữa bệnh nhân và bác sĩ, trong đó nêu rõ cách sử dụng cần sa hợp lý, các rủi ro, hạn chế của cần sa y tế và kỳ vọng về quá trình chăm sóc tiếp theo (mẫu 1). (Xem thêm ‘Viết thư khuyến nghị’ và ‘Thỏa thuận điều trị’ ở dưới.)
- Theo dõi và đánh giá tác dụng phụ – Chúng tôi yêu cầu bệnh nhân tái khám mỗi 3 đến 6 tháng tùy thuộc vào các bệnh đồng mắc để xem xét việc sử dụng (hàm lượng cannabinoid, đường dùng, tần suất sử dụng), đáp ứng điều trị và đánh giá các biến cố bất lợi hoặc tác dụng phụ (bảng 3). (Xem thêm ‘Theo dõi’ ở dưới.)