Khuếch đại đẳng nhiệt qua trung gian vòng (LAMP)
Khuếch đại đẳng nhiệt qua trung gian vòng (LAMP) là một xét nghiệm nhanh giúp chẩn đoán nhiễm não mô cầu ở những bệnh nhân có nguy cơ cao 48,49, với độ chính xác cao khi so sánh với PCR định lượng và nuôi cấy. Xét nghiệm này tương đối dễ thực hiện trong môi trường cấp cứu; thời gian trung bình từ khi lấy mẫu đến khi có kết quả là khoảng 90 phút 48,49.
Các nghiên cứu cho thấy LAMP có khả năng phát hiện số lượng bản sao DNA ít hơn so với các nghiên cứu PCR tiêu chuẩn 50. Một đánh giá hệ thống bao gồm ba nghiên cứu trên 1989 trẻ em với 2243 mẫu xét nghiệm (sử dụng dịch não tủy, máu hoặc phết tỵ hầu/khẩu hầu) cho thấy xét nghiệm LAMP có độ chính xác cao (độ nhạy từ 84% đến 100% và độ đặc hiệu từ 94% đến 100%) khi so sánh với PCR định lượng hoặc nuôi cấy 51.
Các hệ thống LAMP có khả năng phân biệt các nhóm huyết thanh vỏ não mô cầu khác nhau cũng đã được phát triển 52.
TÓM TẮT
- Tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán nhiễm não mô cầu hệ thống là phân lập được Neisseria meningitidis thông qua nuôi cấy từ các dịch cơ thể bình thường vô trùng, chẳng hạn như máu hoặc dịch não tủy (CSF), hoặc ít phổ biến hơn là dịch khớp, dịch màng phổi hoặc dịch màng tim. (Xem ‘Giới thiệu’ ở dưới.)
- Việc phân lập vi khuẩn bằng phương pháp nuôi cấy giúp xác định nguyên nhân gây nhiễm trùng và cho phép thực hiện kháng sinh đồ. (Xem ‘Nuôi cấy máu’ ở dưới.)
- Nhuộm Gram và nuôi cấy tổn thương da có thể làm tăng tỷ lệ chẩn đoán chính xác, mặc dù kết quả âm tính không giúp loại trừ chẩn đoán. (Xem ‘Sinh thiết da’ ở dưới.)
- Không được trì hoãn điều trị kháng sinh để chờ thực hiện chọc dò thắt lưng. Cần lấy mẫu cấy máu và bắt đầu kế hoạch điều trị kháng sinh cùng điều trị hỗ trợ ngay khi nghi ngờ cao bệnh nhân viêm màng não do vi khuẩn. (Xem ‘Dịch não tủy’ ở dưới.)
- Các kết quả hóa sinh và tế bào học gợi ý viêm màng não do vi khuẩn bao gồm: nồng độ glucose trong dịch não tủy dưới 45 mg/dL (2,5 mmol/L), tỷ lệ glucose dịch não tủy/huyết thanh < 0,4, nồng độ protein trên 500 mg/dL và số lượng bạch cầu trên 1000/microL. Tuy nhiên, một hoặc nhiều dấu hiệu điển hình này thường không xuất hiện. (Xem ‘Dịch não tủy’ ở dưới.)
- Các bộ kit ngưng kết latex thương mại, sử dụng các hạt latex phủ kháng thể kháng kháng nguyên vỏ não mô cầu, hiện có sẵn để sử dụng cho các dịch cơ thể như dịch não tủy và nước tiểu. Các bộ kit này có thể phát hiện sự ngưng kết của năm nhóm huyết thanh vỏ: A, B, C, Y và W135, nhưng độ nhạy đối với nhóm huyết thanh B là thấp. Các xét nghiệm phát hiện kháng nguyên nhanh khác hiện đang được nghiên cứu. (Xem ‘Phát hiện kháng nguyên’ ở dưới.)
- Phản ứng chuỗi polymerase (PCR) là một công cụ nhạy và nhanh chóng để chẩn đoán nhiễm não mô cầu. Tuy nhiên, PCR không thay thế được các phương pháp nuôi cấy truyền thống vì không thể dùng để xác định độ nhạy cảm với kháng sinh và không được thực hiện thường quy tại hầu hết các phòng xét nghiệm bệnh viện. (Xem ‘Phản ứng chuỗi polymerase’ ở dưới.)