TÓM TẮT
Dịch tễ học – Viêm ruột thừa là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây ra tình trạng bụng cấp và là một trong những chỉ định thường gặp nhất cho phẫu thuật bụng cấp cứu trên toàn thế giới. Tỷ lệ mắc bệnh trong suốt cuộc đời là 8,6% ở nam giới và 6,7% ở nữ giới; bệnh thường gặp nhất ở những người trong độ tuổi từ 10 đến 30. (Xem thêm ‘Dịch tễ học’ ở dưới.)
Giải phẫu – Ruột thừa nằm ở gốc manh tràng trong hố chậu phải, gần van hồi manh tràng. Đầu ruột thừa có thể nằm ở vị trí sau manh tràng hoặc trong chậu hông, cũng như có thể nằm ở phía trong, ngoài, trước hoặc sau manh tràng (hình 1). Sự thay đổi trong biểu hiện lâm sàng sẽ phản ánh vị trí giải phẫu của ruột thừa. (Xem thêm ‘Giải phẫu’ và ‘Lịch sử’ ở dưới.)
Cơ chế bệnh sinh – Theo lý thuyết ngoại khoa kinh điển, diễn tiến tự nhiên của viêm ruột thừa tương tự như các quá trình viêm khác ở tạng rỗng: tình trạng viêm ban đầu ở thành ruột thừa, tiếp theo là thiếu máu cục bộ khu trú, thủng và hình thành áp-xe khu trú hoặc viêm phúc mạc toàn thể. Tuy nhiên, trong các trường hợp viêm ruột thừa không biến chứng, không nhất thiết phải có tình trạng tắc nghẽn lòng ruột trực tiếp mà có thể là do đáp ứng miễn dịch viêm nội tại. (Xem thêm ‘Cơ chế bệnh sinh’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng – Các triệu chứng điển hình của viêm ruột thừa bao gồm đau bụng hố chậu phải, chán ăn, sốt, buồn nôn và nôn. Cơn đau bụng ban đầu thường xuất hiện quanh rốn, sau đó di chuyển xuống hố chậu phải khi tình trạng viêm tiến triển. Bệnh nhân viêm ruột thừa cũng có thể biểu hiện các triệu chứng không điển hình hoặc không đặc hiệu như khó tiêu, đầy hơi, rối loạn đại tiện và mệt mỏi toàn thân; không phải tất cả bệnh nhân đều có cơn đau bụng di chuyển. (Xem thêm ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
Chẩn đoán – Viêm ruột thừa được nghi ngờ ở những bệnh nhân khởi phát cấp tính với tình trạng đau/ấn đau hố chậu phải và tăng bạch cầu, nhưng chỉ được xác định chắc chắn thông qua kết quả mô bệnh học của bệnh phẩm phẫu thuật. Không có đặc điểm lâm sàng đơn lẻ nào của viêm ruột thừa đủ để chẩn đoán xác định hoặc loại trừ bệnh. Việc đánh giá chẩn đoán viêm ruột thừa được thảo luận chi tiết trong một chủ đề riêng. (Xem thêm “Chẩn đoán viêm ruột thừa cấp ở người lớn: Đánh giá chẩn đoán”.)
Chẩn đoán phân biệt – Chẩn đoán phân biệt với đau bụng hố chậu phải bao gồm các bệnh lý liên quan đến đường tiêu hóa (ví dụ: viêm túi thừa bên phải, bệnh Crohn), các cơ quan sản phụ khoa (ví dụ: nang buồng trứng vỡ, áp-xe vòi trứng – buồng trứng) và đường tiết niệu (ví dụ: cơn đau quặn thận). Chụp CT và siêu âm vùng chậu/tinh hoàn thường có thể phân biệt được các tình trạng này với viêm ruột thừa cấp. Một số tình trạng (ví dụ: nang buồng trứng vỡ) có thể được phát hiện trong quá trình phẫu thuật cắt ruột thừa. (Xem thêm ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)