TÓM TẮT
Nguyên nhân và ngưỡng điều trị – Ở trẻ em, tăng áp lực nội sọ (ICP) thường gặp nhất là biến chứng của chấn thương sọ não; tình trạng này cũng có thể xảy ra ở trẻ có não úng thủy, u não, nhiễm trùng nội sọ, bệnh não gan hoặc suy giảm dòng chảy tĩnh mạch hệ thần kinh trung ương (ví dụ: suy gan) (bảng 1). Giá trị ICP đo được >20 mmHg (27 cmH2O) thường được coi là ngưỡng để bắt đầu điều trị. (Xem phần ‘Sinh lý’ ở dưới và “Tăng áp lực nội sọ (ICP) ở trẻ em: Xử trí”, mục ‘Xử trí tiếp diễn’.)
Biểu hiện lâm sàng – Tăng ICP cấp tính là một tình trạng cấp cứu. Các dấu hiệu quan trọng bao gồm (xem phần ‘Tăng ICP cấp tính’ ở dưới):
- Đau đầu (ở trẻ có khả năng diễn đạt)
- Nôn
- Lơ mơ hoặc hôn mê khởi phát đột ngột
- Phù gai thị (hình 1), tuy nhiên dấu hiệu này có thể không xuất hiện trong giai đoạn tăng ICP cấp tính
- Tăng huyết áp (bảng 4 và bảng 5) kèm theo nhịp tim chậm hoặc nhịp tim nhanh (bảng 3)
- Dấu hiệu thoát vị não (hình 4 và bảng 6)
- Xuất huyết vùng mi mắt trên tự phát, nằm sát bờ mi
- Xuất huyết võng mạc, bầm tím dưới da, gãy xương hoặc tổn thương tạng (bảng 7) ở trẻ bị chấn thương đầu do bị ngược đãi
Ở trẻ nhũ nhi tăng ICP mạn tính và tiến triển (ví dụ: u não phát triển chậm), dấu hiệu thường gặp nhất là lớn đầu so với tuổi (hình 5 và hình 6) kèm theo thóp trước phồng. Ngoài ra, trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ có thể không diễn đạt được một số triệu chứng (ví dụ: đau đầu), do đó thường biểu hiện bằng tình trạng quấy khóc. Ngược lại, trẻ có thể lờ đờ, kém tương tác với xung quanh và bú kém. (Xem phần ‘Độ tuổi bệnh nhân’ ở dưới.)
Tăng ICP bán cấp hoặc mạn tính – Ở trẻ tăng ICP mạn tính, các dấu hiệu chính bao gồm (xem phần ‘Tăng ICP bán cấp hoặc mạn tính’ ở dưới):
- Đau đầu (bảng 8)
- Nôn, thường nặng hơn vào buổi sáng do ICP tăng tích tụ trong đêm khi nằm
- Bất thường về liếc mắt dọc (ví dụ: mắt nhìn xuống [dấu hiệu mặt trời lặn] hoặc không thể nhìn lên trên)
- Mất thị lực hoặc nhìn đôi; ở trẻ nhỏ, nhìn đôi có thể khiến trẻ nheo mắt hoặc nghiêng đầu (hình 2)
- Phù gai thị (hình 1)
- Thất điều, phối hợp vận động kém hoặc dáng đi bất thường, gợi ý tổn thương hố sau
- Các dấu hiệu khác của u não như bất thường về tăng trưởng, đau hoặc cứng cổ, thay đổi hành vi, yếu hoặc liệt khu trú
Chẩn đoán – Mặc dù được thảo luận riêng, nhưng trên lâm sàng, việc đánh giá và xử trí tăng ICP thường được thực hiện đồng thời (sơ đồ 1). Chẩn đoán tăng ICP thường được xác lập thông qua chẩn đoán hình ảnh thần kinh hoặc các phương pháp không xâm lấn khác ở bệnh nhân nhi có các dấu hiệu lâm sàng gợi ý (ví dụ: đau đầu, nôn, thay đổi thị lực, thay đổi trạng thái tâm thần hoặc các dấu hiệu thoát vị não (bảng 6)). Phù gai thị, khi xuất hiện, có độ đặc hiệu cao đối với tình trạng tăng áp lực nội sọ nhưng độ nhạy thấp. (Xem phần ‘Tiếp cận’ và ‘Phát hiện không xâm lấn tăng ICP’ ở dưới.)
Đo ICP xâm lấn cũng giúp xác định tình trạng tăng áp lực nội sọ nhưng không bắt buộc để chẩn đoán. Theo dõi ICP được sử dụng thường quy để hướng dẫn điều trị cho trẻ chấn thương sọ não nặng (thang điểm hôn mê Glasgow [GCS] ≤ 8 (bảng 10)). (Xem “Chấn thương sọ não nặng ở trẻ em: Đánh giá và xử trí ban đầu”, mục ‘Xử trí tiếp diễn’.)
Các xét nghiệm bổ trợ – Ngoài chẩn đoán hình ảnh thần kinh, các xét nghiệm bổ trợ giúp xác định nguyên nhân cụ thể gây tăng ICP (ví dụ: viêm màng não hoặc viêm não), các bệnh đồng mắc ở trẻ chấn thương đầu nặng và phân biệt tăng ICP với các nguyên nhân gây thay đổi trạng thái tâm thần khác (ví dụ: hạ đường huyết, bệnh não chuyển hóa, ngộ độc hoặc trạng thái động kinh không co giật). (Xem phần ‘Các xét nghiệm bổ trợ’ và ‘Chẩn đoán phân biệt’ ở dưới.)
Chọc dò thắt lưng (LP), nếu cần thiết để chẩn đoán, nên được trì hoãn cho đến sau khi thực hiện chẩn đoán hình ảnh thần kinh ở bất kỳ bệnh nhân nào nghi ngờ tăng áp lực nội sọ, đặc biệt là những bệnh nhân có dấu hiệu sắp thoát vị não. Hơn nữa, vì chẩn đoán hình ảnh không phải lúc nào cũng phát hiện được tình trạng tăng ICP, những bệnh nhân có dấu hiệu thần kinh khu trú không nên được chọc dò thắt lưng thường quy, bất kể kết quả chẩn đoán hình ảnh ra sao. (Xem phần ‘Chọc dò thắt lưng’ ở dưới.)