TÓM TẮT
Định nghĩa – Phá thai không an toàn được Hiệp hội Kế hoạch hóa Gia đình (SFP) định nghĩa là việc chấm dứt thai kỳ được thực hiện bởi người cung cấp dịch vụ không có kỹ năng hoặc không được đào tạo, sử dụng các phương pháp không an toàn (ví dụ: uống các chất độc, gây chấn thương bụng, can thiệp dụng cụ vào tử cung) hoặc các phương pháp chưa được nghiên cứu kỹ (ví dụ: thuốc thảo dược, chiết xuất thực vật). (Xem ‘Định nghĩa’ ở dưới.)
Các phương pháp phá thai không an toàn – Bốn phương pháp phá thai không an toàn chính bao gồm (xem ‘Các phương pháp phá thai không an toàn’ ở dưới):
- Thuốc uống và thuốc tiêm (ví dụ: muối kim loại, phốt pho, chì, dầu hỏa, dầu thông, dung dịch tẩy rửa, chloroquine, hormone và nhiều loại trà hoặc thuốc thảo dược).
- Các chế phẩm đặt vào cổ tử cung, âm đạo hoặc trực tràng (ví dụ: viên kali permanganat, chế phẩm thảo dược, thụt tháo).
- Can thiệp dụng cụ vào tử cung (ví dụ: đặt catheter sau đó truyền cồn, nước muối sinh lý hoặc các dung dịch khác; đưa dị vật vào tử cung).
- Chấn thương bụng.
Bệnh tật và tử vong – Các biến chứng thường gặp nhất sau phá thai không an toàn bao gồm xuất huyết, thiếu máu, nhiễm trùng và chấn thương (ví dụ: thủng tử cung, rách âm đạo và cổ tử cung, bỏng hóa chất). Những biến chứng này có thể dẫn đến tử vong hoặc để lại di chứng lâu dài (ví dụ: vô sinh). (Xem ‘Bệnh tật và tử vong’ ở dưới.)
Biểu hiện lâm sàng – Bệnh nhân sau phá thai không an toàn có thể đến khám tại nhiều cơ sở y tế khác nhau với những biểu hiện đa dạng; họ có thể không tiết lộ tình trạng mang thai hoặc việc thực hiện thủ thuật phá thai không an toàn, ngay cả ở những nơi mà phá thai là hợp pháp. (Xem ‘Biểu hiện lâm sàng’ ở dưới.)
Xử trí – Quy trình xử trí bao gồm ổn định tình trạng bệnh nhân, sau đó điều trị biến chứng căn nguyên (ví dụ: xuất huyết, nhiễm trùng, tổn thương). (Xem ‘Xử trí’ ở dưới.)
Xuất huyết – Đối với những bệnh nhân xuất huyết mà không nghi ngờ có sót rau sót thai (RPOC), xử trí ban đầu bao gồm xoa bóp tử cung, sử dụng thuốc co hồi tử cung (ví dụ: misoprostol, methylergonovine, carboprost), chèn gạc tử cung và/hoặc đặt bóng tử cung. Đối với những bệnh nhân không ổn định về mặt huyết động hoặc không kiểm soát được chảy máu bằng các biện pháp bảo tồn, các bước xử trí tiếp theo bao gồm thuyên tắc động mạch tử cung hoặc cắt tử cung. (Xem ‘Xuất huyết’ ở dưới.)
Sót rau sót thai (RPOC) – Với bệnh nhân không ổn định về huyết động, có xuất huyết và nghi ngờ sót rau sót thai, cần thực hiện hút thai hoặc nong và nạo tử cung. Với bệnh nhân ổn định về huyết động có xuất huyết âm đạo và nghi ngờ sót rau sót thai, các lựa chọn bao gồm theo dõi chờ đợi, điều trị nội khoa (ví dụ: misoprostol) hoặc can thiệp ngoại khoa hút sạch tử cung. Đối với bệnh nhân không có triệu chứng nhưng kết quả siêu âm cho thấy nội mạc tử cung dày hoặc tăng sinh mạch máu cơ tử cung, có thể không cần điều trị. (Xem ‘Sót rau sót thai’ ở dưới và “Sót rau sót thai trong nửa đầu thai kỳ”, phần ‘Xử trí’.)
Độc tính do thuốc – Xử trí độc tính do thuốc chủ yếu là điều trị hỗ trợ. Mặc dù misoprostol được coi là một loại thuốc rất an toàn, nhưng đã có báo cáo về các trường hợp thuốc kém chất lượng hoặc gây độc khi dùng liều rất cao. Việc điều trị cho những bệnh nhân này bao gồm loại bỏ các viên thuốc còn sót lại trong âm đạo hoặc dạ dày và chăm sóc hỗ trợ cho đến khi các triệu chứng biến mất, thường mất khoảng 12 giờ. (Xem ‘Độc tính do thuốc’ ở dưới.)
Phòng ngừa – Phòng ngừa phá thai không an toàn đòi hỏi một phương pháp tiếp cận đa diện, bao gồm: mở rộng quyền tiếp cận phá thai an toàn, phòng tránh mang thai ngoài ý muốn, cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế sau phá thai chất lượng cao và giảm thiểu sự kỳ thị liên quan đến phá thai. (Xem ‘Phòng ngừa’ ở dưới.)